- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trương Văn H - Neáng N1"
- Tòa quyết gì? Áp dụng: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, khoản 1 Điều 238, khoản 4 Điều 147, Điều 266, Điều 271, Điều 273, Điều 278, Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 39 Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56…
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KẾ SÁCH TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| &&& Bản án số: 90/2025/HNGĐ-ST Ngày: 12/6/2025. “V/v tranh chấp hôn nhân và gia đình”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KẾ SÁCH, TỈNH SÓC TRĂNG
* Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Thạch Viết Tâm.
- Các Hội thẩm nhân dân:
1/. Bà Võ Duy Loan.
2/. Bà Nguyễn Thị Diễm Trinh.
* Thư ký ghi biên bản phiên toà: Ông Quách Văn Diển, Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Kế Sách.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Lâm Bích Ngọc, Kiểm sát viên.
Trong ngày 12 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng, mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 390/2024/TLST-HNGĐ, ngày 30 tháng 12 năm 2024 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 207/2025/QĐXXST – HNGĐ, ngày 08 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 157/2025/QĐST-HNGĐ ngày 26 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Trương Văn H, sinh ngày 13/3/2000 (vắng mặt)
Địa chỉ: ấp B, xã K, huyện K, tỉnh Sóc Trăng.
Số căn cước công dân: xxxxxxxxxxxx.
- Bị đơn: Neáng N1, sinh ngày 26/5/2002 (vắng mặt)
Địa chỉ: ấp B, xã K, huyện K, tỉnh Sóc Trăng.
Số căn cước công dân: xxxxxxxxxxxx.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện ngày 06/12/2024, nguyên đơn anh Trương Văn H trình bày: Anh H và chị Neáng N1 quen biết nhau, có tình cảm và được gia đình tổ chức đám cưới năm 2022, vợ chồng anh có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện K, tỉnh Sóc Trăng và được cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số: 18, cấp ngày: 10/02/2023. Trong quá trình chung sống vợ chồng anh có 01 con chung tên: Trương Phúc Đ, sinh ngày: 30/08/2023 hiện đang sống chung với anh. Sau khi kết hôn vợ chồng có thời gian dài chung sống hạnh phúc. Tuy nhiên hai vợ chồng thường xuyên cãi vã do bất đồng quan điểm, hai vợ chồng không còn tiếng nói chung, cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc. Khi xảy ra những mâu thuẫn hay bất đồng quan điểm chị Neáng N1 bỏ nhà ra đi không cho anh H hay. Nhận thấy đời sống hôn nhân giữa anh và chị chị Neáng N1 không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên anh yêu cầu được ly hôn với chị Neáng N1. Về con chung, yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng người con Trương Phúc Đ, sinh ngày: 30/08/2023 cho đến khi đủ 18 tuổi và không yêu cầu chị Neáng N1 phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung, không yêu cầu Toà án giải quyết.
- Bị đơn chị Neáng N1 đã được Toà án tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ, nhưng chị không có văn bản trình bày đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến: Thẩm phán tiến hành các thủ tục tố tụng đúng theo quy định của pháp luật, việc xác định tư cách tham gia tố tụng của đương sự và quan hệ pháp luật đang tranh chấp là chính xác, tại phiên tòa Hội đồng xét xử đúng thành phần, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho anh H và chị Neáng N1 được ly hôn, giao con chung cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng đến 18 tuổi, chị Neáng N1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung, về tài sản chung, nợ chung không đặt ra giải quyết, anh H chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Nguyên đơn anh Trương Văn H có đơn yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt, bị đơn chị Neáng N1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt các đương sự. Tòa án căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và khoản 1 Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
Anh Trương Văn H và chị chị Neáng N1 có tình cảm và được gia đình tổ chức đám cưới năm 2022, vợ chồng anh có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện K, tỉnh Sóc Trăng và được cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số: 18, cấp ngày: 10/02/2023. Vì vậy, hôn nhân của anh chị được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Anh H cho rằng, sau khi kết hôn vợ chồng có thời gian dài chung sống hạnh phúc. Tuy nhiên hai vợ chồng thường xuyên cãi vã do bất đồng quan điểm, hai vợ chồng không còn tiếng nói chung, cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc. Khi xảy ra những mâu thuẫn hay bất đồng quan điểm chị Neáng N1 bỏ nhà ra đi không cho anh H hay. Thấy rằng: Hôn nhân giữa anh H và chị Neáng N1 đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được anh chị đã không còn chung sống với nhau một thời gian nhưng không có biện pháp hàn gắn tình cảm, không còn quan tâm, chăm sóc nhau. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 39 Bộ luật Dân sự năm 2015, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, cho anh H và chị Neáng N1 được ly hôn, để mỗi người tạo lập cuộc sống mới.
Về con chung: Anh H và chị Neáng N1 có 01 người con chung là cháu Trương Phúc Đ, sinh ngày: 30/08/2023, hiện nay cháu Đ đang sống với anh H, cháu phát triển bình thường, chị Neáng N1 cũng không có ý kiến trình bày về vấn đề con chung. Để cháu Đ ổn định tâm lý và môi trường sống, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu của anh H, giao cháu Đ cho anh H tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành.
Về cấp dưỡng nuôi con: Anh H không đặt ra vấn đề cấp dưỡng, chị Neáng N1 không có ý kiến. Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết, vấn đề này sẽ được xem xét, giải quyết bằng 01 vụ án khác khi đương sự có yêu cầu.
Dành quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung cho chị Neáng N1, không ai được quyền ngăn cản.
Về tài sản chung và nợ chung: Anh H không yêu cầu giải quyết, chị Neáng N1 không có ý kiến nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
Về án phí: Anh H phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm 300.000 đồng, theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Như đã nhận định nêu trên, đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, khoản 1 Điều 238, khoản 4 Điều 147, Điều 266, Điều 271, Điều 273, Điều 278, Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 39 Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Trương Văn H.
1/. Về quan hệ hôn nhân: Anh Trương Văn H được ly hôn với chị Neáng N1.
2/. Về con chung: Giao cháu Trương Phúc Đ, sinh ngày: 30/08/2023 cho anh Trương Văn H trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi).
3/. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Neáng N1 không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
4/. Dành quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung cho chị Neáng N1 không ai được quyền ngăn cản.
5/. Về tài sản chung và nợ chung: Anh Trương Văn H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
6/. Về án phí: Anh Trương Văn H phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo Biên lai số 0009509 ngày 25/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng. Anh H đã nộp đủ tiền án phí. Chị Neáng N1 không phải chịu án phí.
7/. Báo cho các đương sự biết được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc ngày niêm yết bản án, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm.
8/. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Tòa án tỉnh Sóc Trăng; - VKSND huyện Kế Sách; - THADS huyện Kế Sách; - Các đương sự; - UBND xã K; huyện K; - Lưu hồ sơ vụ án. | Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Thạch Viết Tâm |