- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Hương G - Gây rối trật tự công cộng - phạm tội gây rối trật tự công cộng (điều 318 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 201…"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Hương G và sửa Quyết định của bản án sơ thẩm:
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự Xử phạt; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 318 Bộ luật Hình sự Xử phạt
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI Bản án số: 90/2024/HSPT Ngày: 01-02-2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- T2 phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Tâm
Các Thẩm phán: 1. Bà Phạm Thị H Phúc
2. Ông Đinh Quốc Trí
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Thanh Bình, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thuận - Kiểm sát viên.
Ngày 01 tháng 02 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội mở phiên tòa xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 956/2023/TLPT-HS ngày 27 tháng 11 năm 2023 đối với bị cáo Nguyễn Hương G do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Hương G đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 233/2023/HS-ST ngày 14/9/2023 của Tòa án nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội.
Bị cáo có kháng cáo:
Nguyễn Hương G, sinh năm 2003.
ĐKHKTT và nơi cư trú: Tổ 27 (bị cáo khai tại phiên tòa: nay là tổ 32), phường Đ, quận H, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 10/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nữ; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Xuân T và bà Đặng Thị N; chồng: Chưa có, có 01 con sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Không;
Danh chỉ bản số 000000176 lập ngày 23/02/2023 tại Công an quận Hà Đông, thành phố Hà Nội.
Bị cáo đầu thú và bị bắt, tạm giữ từ ngày 14/02/2023 đến ngày 23/02/2023 thay đổi biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Xuất phát từ mâu thuẫn trên mạng xã hội Facebook tối ngày 12/02/2023, Nguyễn Đức A (sinh ngày 11/9/2007, HKTT: phường Quang Trung, Hà Đông, Hà Nội) sử dụng tài khoản Facebook “Đậu Xanh” hẹn đánh nhau với đối tượng sử dụng tài khoản Facebook tên “Gia Long” (chưa rõ nhân thân) tại khu vực Thiên Đường B1 S, xã An K1, Hoài Đức, Hà Nội.
Sau khi hẹn đánh nhau với đối tượng “Gia Long”, Nguyễn Đức A rủ 21 đối tượng hẹn tập trung tại khu vực bãi đất trống Mậu Lương thuộc phường Kiến Hưng, quận Hà Đông, Hà Nội gồm: Nguyễn H1 Quốc A (sinh ngày 27/8/2006, HKTT: xã Thanh An, Thanh Hà, Hải Dương); Nguyễn Tấn P (sinh ngày 30/01/2006, HKTT: phường Quang Trung, Hà Đông, Hà Nội), Phan H1 H (sinh ngày 26/7/2006, HKTT: phường Phú La, Hà Đông, Hà Nội), Nguyễn Hoàng B (sinh ngày 04/7/2007, HKTT: phường Thụy Phương, Bắc Từ Liêm, Hà Nội), Nguyễn Như H1 N (sinh ngày 02/4/2007, HKTT: phường Mộ Lao, Hà Đông, Hà Nội), Đỗ Gia B1 (sinh ngày 18/12/2006, HKTT: phường Trung Liệt, Đống Đa, Hà Nội), Đỗ Gia H1 (sinh ngày 29/02/2008, HKTT: phường Trung Liệt, Đống Đa, Hà Nội), Huỳnh K (sinh ngày 08/4/2007, HKTT: phường Mộ Lao, Hà Đông, Hà Nội), Đặng T H2 (sinh ngày 28/5/2007, HKTT: phường Văn Quán, Hà Đông, Hà Nội), Nguyễn Xuân Q (sinh ngày 29/9/2007, HKTT: phường Kiến Hưng, Hà Đông, Hà Nội), Nguyễn Đình Đ (sinh ngày 09/11/2007, HKTT: phường Kiến Hưng, Hà Đông, Hà Nội), Trần Đức A (sinh ngày 30/11/2007, HKTT: phường Khương Trung, Thanh Xuân, Hà Nội), Trương Việt A (sinh ngày 25/12/2007, HKTT: xã Tảo Dương Văn, Ứng Hoà, Hà Nội), Nguyễn Anh T (sinh ngày 20/7/2007, HKTT: phường Văn Quán, Hà Đông, Hà Nội), Nguyễn Gia A (sinh ngày 27/02/2007, HKTT: phường Văn Quán, Hà Đông, Hà Nội), Lê Trực M (sinh ngày 20/01/2007, HKTT: phường Khương Trung, Thanh Xuân, Hà Nội), Vũ Đình T2 (sinh ngày 03/02/2007, HKTT: phường Văn Quán, Hà Đông, Hà Nội), Bùi H1 H (sinh ngày 10/11/2008, HKTT: phường Kiến Hưng, Hà Đông, Hà Nội), Nguyễn Văn H3 (sinh ngày 12/10/2007, HKTT: phường Kiến Hưng, Hà Đông, Hà Nội), Bùi Văn Tuấn A (sinh ngày 24/01/2007, HKTT: xã Thanh Mai, Thanh Oai, Hà Nội), Nguyễn Nam K1 (sinh ngày 28/11/2007, HKTT: phường Phú Lãm, Hà Đông, Hà Nội). Trước khi đi đánh nhau, nhóm của Nguyễn Đức A tập trung tại bãi đất trống Mậu Lương, trong đó: Đỗ Gia B1 và Đỗ Gia H1 mang theo 01 dao mèo và 01 tuýp nhọn; Nguyễn Tấn P mang theo 01 tuýp hàn phóng; Huỳnh K, Lê Trực M, Bùi Văn Tuấn A, Trương Việt A, Nguyễn Anh T lấy 01 két chai thủy tinh tại bãi đất trống Mậu Lương rồi chia cho mọi người để đi tìm nhóm “Gia Long” đánh nhau.
Sau khi nhận lời của Nguyễn Đức A rủ đi đánh nhau, Nguyễn H1 Quốc A đã rủ thêm 09 đối tượng khác hẹn tập trung tại khu vực Đầm Tròn, xã Thanh Liệt, huyện Thanh Trì, Hà Nội gồm: Đặng Đình H1 (sinh ngày 28/10/2005, HKTT: phường Phú Lương, Hà Đông, Hà Nội), Đào Thế A (sinh ngày 18/5/2006, HKTT: phường Phú Lãm, Hà Đông, Hà Nội), Nguyễn Hương G (sinh 08/10/2003, HKTT: phường Đ, H, Hà Nội), Nguyễn Mạnh H2 (sinh ngày 20/10/2006, HKTT: phường Phạm Đình Hổ, Hai Bà Trưng, Hà Nội), Nguyễn Quang T2 (sinh ngày 26/5/2006, HKTT: xã Tam Hiệp, Thanh Trì, Hà Nội), Nguyễn Đình H3 (sinh ngày 12/5/2004, HKTT: phường Yên N, Hà Đông, Hà Nội), Nguyễn Tuấn A (sinh ngày 04/8/2007, HKTT: xã Tả Thanh Oai, Thanh Trì, Hà Nội), Phạm Tiến D (sinh ngày 21/10/2007, HKTT: xã Thanh Liệt, Thanh Trì, Hà Nội), Ngô Văn S (sinh ngày 22/6/2007, HKTT: xã Tả Thanh Oai, Thanh Trì, Hà Nội). Khi gặp nhau tại khu vực Đầm Tròn, các đối tượng thấy có sẵn hung khí gồm: Tuýp sắt vót nhọn, vỏ chai thuỷ tinh, tuýp hàn phóng,... được để sẵn tại đây nên đã tự lấy các hung khí này, rồi đi gặp nhóm của Nguyễn Đức A tại khu vực bãi đất trống Mậu Lương thuộc phường Kiến Hưng, quận Hà Đông, Hà Nội để cùng đi tìm nhóm của “Gia Long” đánh nhau.
Đến khoảng 20 giờ cùng ngày 12/02/2023, cả nhóm tập trung tại khu vực bãi đất trống Mậu Lương điều khiển 17 xe máy, mang theo nhiều hung khí gồm: tuýp hàn dao phóng, tuýp sắt nhọn, dao, kiếm, vỏ chai thủy tinh ... đi tìm nhóm “Gia Long” để đánh nhau, cụ thể: (1) Nguyễn H1 Quốc A cầm 01 thanh kiếm ngồi sau 01 nam thanh niên (chưa rõ nhân thân) điều khiển 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave đen không rõ BKS (không thu giữ được); (2) Vũ Đình T2 điều khiển 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu trắng, BKS: 29V5 – 3627 chở Nguyễn Gia A và Lê Trực M ngồi sau mỗi người cầm 02 vỏ chai thủy tinh; (3) Nguyễn Quang T2 điều khiển 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Vision màu trắng không BKS (không thu giữ được) chở Đào Thế A ngồi sau cầm 01 tuýp sắt nhọn; (4) Nguyễn Mạnh H2 điều khiển 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu xanh, BKS: 29T3 – 4216 chở Nguyễn Hương G ngồi sau cầm 02 vỏ chai thủy tinh; (5) 01 nam thanh niên có tên Facebook “Lưu Viết Thắng” điều khiển 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Vision màu xám không BKS (không thu giữ được) chở Nguyễn Đình H3 ngồi sau cầm 01 thanh tuýp sắt hàn phóng; (6) Nguyễn Tấn P điều khiển 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu xanh tím than, BKS: 29T1-957.68 chở Phan H1 H ngồi sau cầm 01 thanh tuýp hàn phóng và 01 vỏ chai thủy tinh; (7) 01 nam thanh niên có tên Facebook “Hậu” điều khiển xe máy Honda Wave màu xanh, BKS: 29M1-634.85 của Ngô Văn S chở S ngồi sau cầm 04 vỏ chai thủy tinh; (8) Đỗ Gia B1 điều khiển xe máy Honda Wave màu đỏ đen BKS: 29K1-404.59 chở Nguyễn Đức A cầm 01 vỏ chai thủy tinh và 01 thanh tuýp hàn phóng; (9) Nguyễn H B điều khiển 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu trắng BKS: 29E2-288.15 chở Nguyễn Như H1 N cầm 01 vỏ chai thủy tinh; (10) Nguyễn Đình Đ điều khiển 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu đen BKS: 29T2-162.00 chở Nguyễn Xuân Q cầm 01 thanh tuýp sắt vót nhọn; (11) Đặng T H2 điều khiển 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave BKS: 29V5-3627 chở Đỗ Gia H1 ngồi sau cầm 02 vỏ chai thủy tinh; (12) Trương Việt A điều khiển 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Vision màu đỏ đen BKS: 29Y3-692.02 chở Nguyễn Anh T cầm 02 vỏ chai thủy tinh; (13) Bùi H1 H điều khiển 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda SH mode màu vàng, BKS: 29T1-659.85 chở Nguyễn Văn H3 ngồi sau cầm 04 vỏ chai thủy tinh; (14) Trần Đức A điều khiển 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Vision màu đỏ đen BKS: 29G1-797.00 chở Huỳnh K cầm 01 vỏ chai thủy tinh và 01 thanh tuýp sắt nhọn; (15) Bùi Văn Tuấn A điều khiển 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu đen, BKS: 29X7 – 608.75 chở Nguyễn Nam K1 không cầm theo hung khí gì; (16) 01 nam thanh niên chưa rõ nhân thân điều khiển 01 chiếc xe máy Honda Wave màu đỏ đen, BKS: 29T1-032.11 của Đặng Đình H1, chở H1 ngồi sau cầm 01 thanh tuýp hàn phóng; (17) Phạm Tiến D điều khiển 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu tím than, BKS: 29M1-772.76 chở Nguyễn Tuấn A ngồi sau cầm 04 vỏ chai thủy tinh.
Khi đi các đối tượng tụ tập thành đoàn, giao ước với nhau tất cả các xe máy bật đèn xi nhan trái, đeo khăn đỏ ở tay để tránh nhầm với nhóm khác, cả nhóm đi theo đường Văn Phú thuộc phường Phú La, Hà Đông sang đường Lê Trọng Tấn thuộc phường La Khê, Dương Nội đến khu vực Thiên Đường B1 S vừa đi vừa phóng nhanh, lạng lách, đánh võng, hò hét, bấm còi, giơ các loại hung khí lên trời để thị uy.... Khoảng 21 giờ 10 phút cùng ngày, khi cả nhóm đi đến đoạn ngã tư Lê Trọng Tấn thuộc phường Dương Nội, quận Hà Đông, Hà Nội thì bị Tổ tuần tra Công an quận Hà Đông phát hiện, sau đó cả nhóm bỏ chạy. Tổ tuần tra đã tiến hành kiểm tra hành chính và khống chế được Nguyễn Như H1 N.
Từ ngày 13/02/2023 đến ngày 15/02/2023, các đối tượng Nguyễn H1 Quốc A, Đặng Đình H1, Nguyễn Đình H3, Nguyễn Quang T2, Đào Thế A, Nguyễn Mạnh H2, Nguyễn Hương G, Nguyễn Tấn P, Phan H1 H, Đỗ Gia B1, Lê Trực M, Vũ Đình Tường lần lượt đến Cơ quan Công an quận Hà Đông xin đầu thú và thành khẩn khai nhận hành vi vi phạm của bản thân như trên.
Vật chứng của vụ án đã thu giữ và xác minh nguồn gốc vật chứng gồm:
1. 01 (một) chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu trắng BKS: 29E2 -288.15 do Công an phường Dương Nội thu giữ tại hiện trường. Quá trình điều tra xác định, chiếc xe Honda Wave BKS: 29E2 -288.15 này là tài sản của anh Chu Thanh Hải, sinh năm 1987, HKTT: P102A11 tập thể Khương Trung, phường Khương Trung, quận Thanh Xuân, Hà Nội (cậu của Trần Đức A). Ngày 12/02/2023, Trần Đức A tự ý lấy chiếc xe trên đi tham gia đánh nhau, anh Hải không biết.
2. 01 (một) chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Vision đỏ đen BKS: 29G1-797.00 thu giữ của Trần Đức A. Quá trình điều tra xác định, chiếc xe trên là tài sản của chị Chu Tuyết Nhung, sinh năm 1985 (mẹ của Trần Đức A). Ngày 12/02/2023, Trần Đức A tự ý lấy chiếc xe trên đi tham gia đánh nhau, chị Nhung không biết.
3. 01 (một) chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave đen bạc BKS: 29X7-608.75 thu giữ của Bùi Văn Tuấn A. Quá trình điều tra xác định, chiếc xe trên là tài sản của anh Lưu Quang S, sinh năm 1988, HKTT: thôn My Hạ, xã Thanh Mai, huyện Thanh Oai, Hà Nội (cậu ruột của Bùi Văn Tuấn A). Ngày 12/02/2023, Bùi Văn Tuấn A tự ý lấy chiếc xe trên đi tham gia đánh nhau, anh S không biết.
4. 01 (một) chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Vision đỏ đen BKS: 29Y3-692.02 thu giữ của Trương Việt A. Quá trình điều tra xác định, chiếc xe trên là tài sản của chị Trương Thị Thanh Thủy, sinh năm 1983 (mẹ của Trương Việt A). Ngày 12/02/2023, Trương Việt A tự ý lấy chiếc xe trên đi tham gia đánh nhau, chị Thủy không biết.
5. 01 (một) chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave đỏ đen BKS: 29V5-3627 thu giữ của Vũ Đình T2. Quá trình điều tra xác định, chiếc xe trên là tài sản của anh Lê Văn Thanh, sinh năm 1977, HKTT: Số 3, ngõ 233 Chiến Thắng, phường Văn Quán, quận Hà Đông, Hà Nội (cậu của Vũ Đình T2). Ngày 12/02/2023, Vũ Đình T2 tự ý lấy chiếc xe trên đi tham gia đánh nhau, anh Thanh không biết.
6. 01 (một) chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave đỏ đen BKS: 29K1-404.59 thu giữ của Đỗ Gia B1. Quá trình điều tra xác định, chiếc xe trên là tài sản của anh Đỗ Ngọc Tân, sinh năm 1981, HKTT: Tổ 10, phường Phúc La, quận Hà Đông, Hà Nội (chú của Đỗ Gia B1). Anh Tân giao xe cho chị Nguyễn Thuỳ Liên (mẹ của Đỗ Gia B1) quản lý, sử dụng. Ngày 12/02/2023, Đỗ Gia B1 tự ý lấy chiếc xe trên đi tham gia đánh nhau, anh Tân và chị Liên không biết.
7. 01 (một) chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave đen bạc BKS: 29T1-957.68 thu giữ của Phan H1 H. Quá trình điều tra xác định, chiếc xe trên là tài sản của chị Đỗ Thị Hạnh, sinh năm 1980 (mẹ của Phan H1 H). Ngày 12/02/2023, Phan H1 H tự ý lấy chiếc xe trên đi tham gia đánh nhau, chị Hạnh không biết.
8. 01 (một) chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave đen BKS: 29T2-162.00 thu giữ của Nguyễn Xuân Q. Quá trình điều tra xác định, chiếc xe trên là tài sản của anh Nguyễn Đình K1, sinh năm 1972 (bố của Nguyễn Xuân Q). Ngày 12/02/2023, Q tự ý lấy chiếc xe trên đi tham gia đánh nhau, anh K1 không biết.
9. 01 (một) chiếc xe máy nhãn hiệu Honda SH mode vàng BKS: 29T1-659.85 thu giữ của Bùi H1 H. Quá trình điều tra xác định, chiếc xe trên là tài sản của chị Nguyễn Thị Lan Anh, sinh năm 1984 (mẹ của Bùi H1 H). Ngày 12/02/2023 H tự ý lấy chiếc xe trên đi tham gia đánh nhau, chị Lan Anh không biết.
10. 01 (một) chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu đen-bạc, BKS: 29G2-057.05 thu giữ của Lê Trực M. Quá trình điều tra xác định, chiếc xe trên là tài sản của chị Lê Thị Thủy, sinh năm 1973 (mẹ của Lê Trực M). Ngày 12/02/2023, M tự ý lấy chiếc xe trên đi tham gia đánh nhau, chị Thủy không biết.
11. 01 (một) chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave xanh đen bạc BKS: 29M1-772.76 thu giữ của Phạm Tiến D. Quá trình điều tra xác định, chiếc xe trên là tài sản của chị Phạm Thu Phương, sinh năm 2002 (chị gái của Phạm Tiến D). Ngày 12/02/2023, D tự ý lấy chiếc xe trên đi tham gia đánh nhau, chị Phương không biết.
12. 01 (một) chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave đỏ đen bạc BKS: 29T2-032.11 thu giữ của Đặng Đình H1. Quá trình điều tra xác định, chiếc xe trên là tài sản của anh Đặng Đình An, sinh năm 1978 (bố của Đặng Đình H1). Ngày 12/02/2023, D tự ý lấy chiếc xe trên đi tham gia đánh nhau, anh An không biết.
13. 01 (một) chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave xanh BKS: 29T3-4216 thu giữ của Nguyễn Mạnh H2. Quá trình điều tra xác định, chiếc xe trên là tài sản của chị Nguyễn Thị Hồng Mai, sinh năm 1976 (mẹ của Nguyễn Mạnh H2). Ngày 12/02/2023, H2 tự ý lấy chiếc xe trên đi tham gia đánh nhau, chị Mai không biết.
14. 01 (một) chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave xanh BKS: 29M1-634.85 thu giữ của Ngô Văn S. Quá trình điều tra xác định, chiếc xe trên là tài sản của anh Ngô Văn Tài, sinh năm 1977 (bố của Ngô Văn S). Ngày 12/02/2023, S tự ý lấy chiếc xe trên đi tham gia đánh nhau, anh Tài không biết.
15. 01 (một) thanh tuýp sắt dài 2,7m có hàn lưỡi dao phóng dài 21cm, bản dao rộng nhất 0,7cm; 01 (một) thanh tuýp sắt dài 2m có hàn lưỡi dao phóng dài 23cm, bản dao rộng nhất 0,5cm; 01 (một) thanh tuýp sắt dài 2,73m có hàn lưỡi dao phóng dài 22cm, bản dao rộng nhất 0,7cm; 01 (một) thanh tuýp sắt dài 2,1m có hàn lưỡi dao phóng dài 18cm, bản dao rộng nhất 0,5cm được thu giữ tại khu vực bãi đất trống thuộc xã Tả Thanh Oai, Thanh Trì, Hà Nội trong quá trình dẫn giải Đặng Đình H1, Nguyễn H1 Quốc A xác định nơi cất giấu hung khí sau khi sử dụng để tham gia đánh nhau ngày 12/02/2023.
16. 01 (một) vỏ két đựng nước ngọt bằng nhựa; 02 (hai) vỏ chai thủy tinh thu giữ tại khu vực bãi đất trống Mậu Lương, phường Kiến Hưng, quận Hà Đông, Hà Nội trong quá trình dẫn giải Nguyễn Đức A, Nguyễn Tấn P xác định nơi nhóm Nguyễn Đức A tụ tập trước khi đi tìm nhóm Facebook “Gia Long” để đánh nhau vào ngày 12/02/2023.
Trong các ngày từ 13/02/2023 đến 27/02/2023, Uỷ ban nhân dân các phường La Khê, Phú La, Kiến Hưng, Dương Nội thuộc quận Hà Đông, thành phố Hà Nội đều có văn bản đề nghị xử lý nghiêm minh hành vi của các đối tượng gây náo động, mất an ninh trật tự trên đường phố, khu vực đông dân cư, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa bàn.
Về xử lý vật chứng: Ngày 18/4/2023, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 19 trao trả tài sản cho chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp gồm: 01(một) chiếc xe máy BKS: 29E2-288.15 cho anh Chu Thanh Hải; 01(một) chiếc xe máy BKS: 29G1-797.00 cho chị Chu Tuyết Nhung; 01(một) chiếc xe máy BKS: 29X7-608.75 cho anh Lưu Quang S; 01(một) chiếc xe máy BKS: 29Y3-692.02 cho chị Trương Thị Thanh Thuỷ; 01(một) chiếc xe máy BKS: 29V5-3627 cho anh Lê Văn Thanh; 01(một) chiếc xe máy BKS: 29K1-404.59 cho chị Nguyễn Thuỳ Liên; 01(một) chiếc xe máy BKS: 29T1-957.68 cho chị Đỗ Thị Hạnh; 01(một) chiếc xe máy BKS: 29T2-162.00 cho anh Nguyễn Đình K1; 01(một) chiếc xe máy BKS: 29T1-659.85 cho chị Nguyễn Thị Lan Anh; 01(một) chiếc xe máy BKS: 29G2-057.05 cho chị Lê Thị Thuỷ; 01(một) chiếc xe máy BKS: 29M1-772.76 cho chị Phạm Thu Phương; 01(một) chiếc xe máy BKS: 29T2-032.11 cho ông Đặng Đình An; 01(một) chiếc xe máy BKS: 29T3-4216 cho chị Nguyễn Thị Hồng Mai; 01(một) chiếc xe máy BKS: 29M1-634.85 cho anh Ngô Văn Tài.
Tại Cơ quan điều tra, các đối tượng Nguyễn H1 Quốc A, Đặng Đình H1, Nguyễn Đình H3, Nguyễn Quang T2, Đào Thế A, Nguyễn Mạnh H2, Nguyễn Hương G, Nguyễn Tấn P, Phan H1 H, Đỗ Gia B1, Lê Trực M, Vũ Đình T2 đã khai nhận toàn bộ hành vi của bản thân. Lời khai của các đối tượng phù hợp với lời khai của người làm chứng, người liên quan, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Tại bản Cáo trạng số 164/CT-VKS ngày 31/5/2023 của Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội truy tố Nguyễn Hương G về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, cáo trạng còn truy tố 11 bị cáo khác theo quy định của pháp luật.
Bản án hình sự sơ thẩm số 233/2023/HS-ST ngày 14/9/2023 của Tòa án nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hương G phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự
Xử phạt bị cáo Nguyễn Hương G 24 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian bắt, tạm giữ từ ngày 14/02/2023 đến ngày 23/02/2023.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về tội danh, điều luật và mức hình phạt đối với 11 bị cáo khác, tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 19/9/2023, bị cáo Nguyễn Hương G kháng cáo với nội dung xin được hưởng án treo.
Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Hương G thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, tỏ ra ăn năn hối cải, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội nhận định:
Về hình thức kháng cáo: Đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Hương G trong thời hạn luật định, đúng về chủ thể, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về nội dung kháng cáo:
Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo Nguyễn Hương G tại phiên tòa, có đủ cơ sở xác định: Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Nguyễn Hương G về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Nguyễn Hương G 24 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” là phù hợp. Tuy nhiên, xét vai trò đồng phạm của bị cáo là người giúp sức (bị cáo ngồi sau xe máy, tay cầm vỏ chai thủy tinh, được người khác rủ đi gây rối), bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, là lao động chính trong gia đình, hiện đang là mẹ đơn thân nuôi con nhỏ. Xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và có nơi cư trú rõ ràng, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Hương G và sửa quyết định của bản án sơ thẩm, cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội cũng đủ tác dụng giáo dục, cải tạo đối với bị cáo và răn đe, phòng ngừa tội phạm chung. Cụ thể:
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự
Xử phạt bị cáo Nguyễn Hương G 24 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách 48 tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Hương G trong thời hạn luật định, đúng về chủ thể, được Hội đồng xét xử chấp nhận để xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Căn cứ vào lời khai của bị cáo Nguyễn Hương G, vật chứng thu được, căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử phúc thẩm có đủ cơ sở kết luận:
Trong khoảng thời gian từ 20 giờ 00 phút đến khoảng 21 giờ 10 phút ngày 12/02/2023, xuất phát từ mâu thuẫn cá nhân giữa Nguyễn Đức A và đối tượng sử dụng Facebook có tên “Gia Long” (chưa rõ nhân thân), Nguyễn Đức A đã có hành vi lôi kéo và nhờ Nguyễn H1 Quốc A rủ Nguyễn Hương G cùng một số đối tượng khác cùng nhau tụ tập tại khu vực bãi đất trống Mậu Lương thuộc phường Kiến Hưng, quận Hà Đông, Hà Nội. Tiếp đó, các đối tượng đem theo nhiều hung khí gồm: tuýp sắt, tuýp sắt hàn dao, tuýp sắt nhọn, dao, kiếm, chai thủy tinh,… điều khiển xe máy thành đoàn, đi từ bãi đất trống thuộc phường Kiến Hưng qua các tuyến đường chính thuộc địa bàn các phường Phú La, La Khê, Dương Nội, quận Hà Đông bấm còi, lượn lách, đánh võng gây náo loạn làm mất an ninh nhằm tìm đối tượng “Gia Long” để đánh nhau, gây hoang mang lo sợ trong quần chúng nhân dân trong khu vực.
Hành vi của bị cáo Nguyễn Hương G đã cấu thành tội “Gây rối trật tự công cộng” với tình tiết “Dùng vũ khí, hung khí hoặc có hành vi phá phách”. Tội danh và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự. Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Nguyễn Hương G về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét nội dung kháng cáo của bị cáo Nguyễn Hương G, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng:
Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội; xâm phạm đến trật tự công cộng được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an và an toàn xã hội. Bản thân bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý phạm tội. Do đó, cần phải xử lý nghiêm bị cáo theo quy định của pháp luật để răn đe và phòng ngừa chung.
Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét bị cáo Nguyễn Hương G nhân thân chưa có tiền án, tiền sự; sau khi phạm tội đã đến Cơ quan điều tra để đầu thú; quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải để cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật. Tuy nhiên, quá trình chuẩn bị xét xử sơ thẩm, bị cáo Nguyễn Hương G giao nộp tài liệu thể hiện bị cáo là mẹ đơn thân, hiện nay bị cáo là lao động chính trong gia đình (Bút lục 1002) nhưng Tòa án cấp sơ thẩm chưa xem xét. Do đó Hội đồng xét xử áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Tại cấp phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Hương G tiếp tục xuất trình tài liệu thể hiện bị cáo là mẹ đơn thân, hiện nay bị cáo là lao động chính trong gia đình. Xét thấy bị cáo phạm tội với vai trò là người giúp sức không đáng kể, bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và có nơi cư trú rõ ràng, không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian. Do đó Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Hương G và sửa quyết định của bản án sơ thẩm, cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội cũng đủ tác dụng giáo dục, cải tạo đối với bị cáo và răn đe, phòng ngừa tội phạm chung.
Hội đồng xét xử sửa quyết định của bản án sơ thẩm nên bị cáo Nguyễn Hương G không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
1. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Hương G và sửa Quyết định của bản án sơ thẩm:
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự
Xử phạt bị cáo Nguyễn Hương G 24 (Hai mươi tư) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách 48 (Bốn mươi tám) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao bị cáo Nguyễn Hương G cho Ủy ban nhân dân phường Đ, quận H, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
T2 hợp bị cáo Nguyễn Hương G thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo Nguyễn Hương G cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Về án phí: áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Nguyễn Hương G không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án 01/02/2024.
| Nơi nhận: - VKSND thành phố Hà Nội; - Công an quận Hà Đông; - VKSND quận Hà Đông; - TAND quận Hà Đông; - Thi hành án dân sự quận Hà Đông; - Bị cáo; - Lưu Hồ sơ vụ án, V.Phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Trần Thị Tâm |