vanban.org

Bản án 90/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Cho ly hôn giữa Anh Từ Duy K và Chị Vũ Hoàng Y

Về nuôi con chung 1.1. Giao cháu Từ Bảo An, sinh ngày 05/4/2018 cho Chị Vũ Hoàng Y trực tiếp nuôi dưỡng. 1.2.Tạm hoãn việc đóng góp phí tổn nuôi con chung đối với Anh Từ Duy K cho đến khi cháu An trưởng thành đủ 18 tuổi hoặc đến khi có yêu cầu khác theo quy định của pháp luật. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Cho ly hôn giữa Anh Từ Duy K và Chị Vũ Hoàng Y
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
QUẬN LONG BIÊN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 90/2024/HNGĐ -ST
Ngày: 27/3/2024
V/v: Tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đặng Mai Hoa Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Hoàng Văn Tiến

2. Ông Phùng Văn Thành

- Thư ký phiên toà: Ông Lưu Tuấn Long - Thư ký Tòa án nhân dân quận Long Biên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Đoan Trang - Kiểm sát viên

Ngày 27 tháng 3 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Long Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 576/2023/TLST – HNGĐ ngày 05 tháng 12 năm 2023 về Tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2024/QĐXX ngày 19 tháng 2 năm 2024 và quyết định hoãn phiên tòa số 06/2024/QĐHPT-HNGĐ ngày 08 tháng 3 năm 2024 giữa các đương sự: 1. Nguyên đơn: Anh Từ Duy K, sinh năm 1995 HKTT: tổ dân phố số XX, phường Ngọc Lâm, Long Biên, HN Nơi cư trú: PXY, tòa HH1 Đơn nguyên B chung cư G, Long Biên, Hà Nội

(Anh K có đơn xin xét xử vắng mặt) 2. Bị đơn: Chị Vũ Hoàng Y, sinh năm 1996 HKTT: tổ dân phố số XX, phường Ngọc Lâm, Long Biên, HN Nơi cư trú: PXY, tòa HH1 Đơn nguyên B chung cư G, Long Biên, Hà Nội (Chị Y vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

*Theo đơn khởi kiện và các lời khai tại Toà án, nguyên đơn, Anh Từ Duy K trình bày:

Anh Từ Duy K và Chị Vũ Hoàng Y kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện có tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại UBND phường Ngọc Lâm, quận Long Biên, Hà Nội ngày 03/10/2017.

Quá trình chung sống vợ chồng anh chị phát sinh nhiều mâu thuẫn. Vợ chồng không hạnh phúc, Chị Y bỏ nhà đi từ tháng 2 năm 2021 đến nay không có tin tức gì. Ngày 14/7/2023, Tòa án nhân dân quận Long Biên đã ra thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú đối với Chị Y. Anh K đã làm thủ tục đăng tin bên báo, đài nhưng đến nay đã hết thời hạn 4 tháng đăng tin mà Chị Y không có tin tức gì. Nay xác định tình cảm không còn, Anh K xin được ly hôn với Chị Y.

Về con chung: anh chị có 01 con chung là cháu Từ Bảo An, sinh ngày 05/4/2018. Sau khi ly hôn Anh K đề nghị để Chị Y tiếp tục nuôi dưỡng cháu An do Chị Y bỏ đi đã đưa cháu An đi cùng.

Về tài sản chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí anh xin chịu cả án phí theo quy định của pháp luật.

* Đối với bị đơn là Chị Vũ Hoàng Y: Tòa án nhân dân quận Long Biên đã ra quyết định tuyên bố Chị Y vắng mặt khỏi nơi cư trú theo yêu cầu của Anh K. Quá trình tiến hành tố tụng, mặc dù đã được triệu tập hợp lệ đến Tòa án để cung cấp lời khai, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ, hòa giải và tham gia phiên tòa nhưng Chị Y vẫn vắng mặt không có lý do nên Tòa án không thu thập được lời khai của Chị Y.

Tại phiên tòa hôm nay, Anh K có đơn xin vắng mặt và Chị Y vắng mặt lần thứ 2 không có lý do. Vì vậy HĐXX xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên tại phiên toà phát biểu ý kiến: Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Người tham gia tố tụng là nguyên đơn chấp hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Bị đơn vắng mặt chưa chấp hành đúng quy định của pháp luật trong quá trình tham gia tố tụng.

Vì vậy, căn cứ vào: khoản 1 Điều 28 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015 và các Điều: 56,81,82,83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, đề nghị Tòa án nhân dân quận Long Biên:

- Chấp nhận yêu cầu ly hôn của Anh Từ Duy K.

- Về con chung: Giao cháu Từ Bảo An cho Chị Y trực tiếp nuôi dưỡng, tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con của Anh K cho đến khi nào có sự thay đổi theo quy định của pháp luật.

- Về tài sản chung: Đề nghị không xem xét giải quyết.

- Về án phí: Anh K phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả diễn biến tại phiên toà, sau khi thảo luận và nghị án, Hội đồng xét xử nhận định: * Về tố tụng: Anh Từ Duy K khởi kiện vụ án về việc “ Tranh chấp ly hôn” đối với bị đơn là Chị Vũ Hoàng Y có địa chỉ cư trú cuối cùng P 501, tòa HH1, Đơn nguyên B, chung cư Gia Thụy, Long Biên, Hà Nội nên việc TAND quận Long Biên thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 điều 40 BLTTDS.

Việc nguyên đơn Anh K có đơn xin xét xử vắng mặt và anh giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, lời trình bầy có trong hồ sơ vụ án thuộc trường hợp được quy định tại khoản 1 điều 227 BLTTDS, nên chấp nhận.

Bị đơn là Chị Vũ Hoàng Y: Tòa án nhân dân quận Long Biên đã ra quyết định tuyên bố chị vắng mặt khỏi nơi cư trú theo quyết định số 84/2023/QĐST-VDS ngày 14/7/2023. Quá trình tiến hành giải quyết vụ án Tòa án nhân dân quận Long Biên đã tiến hành niêm yết công khai các văn bản tố tụng hợp lệ nhưng Chị Y vẫn vắng mặt. Do đó Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt Chị Y là phù hợp quy định tại điều 227, điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

* Về quan hệ hôn nhân: Anh Từ Duy K và Chị Vũ Hoàng Y kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện có tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại UBND phường Ngọc Lâm, quận Long Biên, Hà Nội ngày 03/10/2017. Đây là hôn nhân hợp pháp.

Các chứng cứ có tại hồ sơ vụ án thể hiện, vợ chồng anh chị chung sống phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng trong cách làm ăn kinh tế. Từ năm 2021, Anh K đã mất liên lạc, không có tin tức về Chị Y do Chị Y đã bỏ nhà đi. Vợ chồng anh chị đã cắt đứt mọi quan hệ với nhau từ năm 2021 đến nay. Nay Anh K xác định tình cảm vợ chồng không còn.

Theo biên bản xác minh tại địa phương cung cấp: Chị Y và Anh K sau khi kết hôn có về sinh sống tại địa chỉ P501 tòa HH1 đơn nguyên B, Chung cư Gia Thụy, Long Biên, Hà Nội được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Khoảng tháng 2/2021 Chị Y cùng cháu An bỏ đi và không liên lạc được. Nay Anh K làm đơn xin ly hôn với Chị Y đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Xét thấy tình trạng hôn nhân của Anh K và Chị Y như vậy là có mâu thuẫn trầm trọng vợ chồng không có thông tin liên lạc với nhau từ tháng 2/2021 đến nay, đời sống chung không thể kéo dài. Việc Anh K làm đơn xin ly hôn với Chị Y là có căn cứ, là nguyện vọng chính đáng, phù hợp điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

* Về con chung: Anh chị có 01 con chung là cháu Từ Bảo An, sinh ngày 05/4/2018. Xét thấy, do Chị Y bỏ nhà đi và đã đưa cháu An đi cùng. Đến nay Anh K không biết Chị Y ở đâu và có bất kỳ thông tin gì của hai mẹ con. Nguyện vọng của Anh K đề nghị để Chị Y trực tiếp nuôi dưỡng cháu An. HĐXX thấy việc giao con cho Chị Y tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp nên chấp nhận yêu cầu của Anh K về vấn đề con chung.

* Về tài sản chung: Anh K không có yêu cầu và tranh chấp nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề giải quyết.

* Về án phí: Anh K phải chịu án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điển 2 khoản 1 điều 40, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 266, Điều 271, Điều 272 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

- Căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án. 1. Về hôn nhân:

Cho ly hôn giữa Anh Từ Duy K và Chị Vũ Hoàng Y

2. Về nuôi con chung 1.1. Giao cháu Từ Bảo An, sinh ngày 05/4/2018 cho Chị Vũ Hoàng Y trực

tiếp nuôi dưỡng. 1.2.Tạm hoãn việc đóng góp phí tổn nuôi con chung đối với Anh Từ Duy K cho đến khi cháu An trưởng thành đủ 18 tuổi hoặc đến khi có yêu cầu khác theo quy định của pháp luật.

Không ai được ngăn cản quyền gặp gỡ và chăm sóc con chung.

3. Tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết 4. Về án phí: Anh Từ Duy K phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Anh K đã nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí theo biên lai số 018436 ngày 05/12/2023 tại Chi cục thi hành án quận Long Biên. Nay chuyển thành án phí.

Án xử công khai sơ thẩm.

Anh K và Chị Y có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ nhận được tống đạt bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.

Cỡ chữ