vanban.org

Bản án 90/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận cho ông Đặng Minh V được ly hôn với bà Vũ Thị H.

Về con chung: Giao cháu Đặng Thành T1 - sinh ngày 26/9/2009 và cháu Đặng Thị Yến Nhi - sinh ngày 27/4/2012 cho ông Đặng Minh Vũ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi các cháu đũ 18 tuổi và có khả năng lao động. Ông Đặng Minh V không yêu cầu bà Vũ Thị H cấp dưỡng cho con. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn, tranh chấp nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận cho ông Đặng Minh V được ly hôn với bà Vũ Thị H.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN XUÂN LỘC
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 90/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 07- 8 -2024
V/v “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN LỘC, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Nguyệt

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Xuân Tùng

Bà Linh Thị Ngọc Thạch

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Khánh Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Anh Đức – Kiểm sát viên

Ngày 07 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 152/2024/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 3 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 47/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 40/2024/QĐST-HNGĐ ngày 17 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Đặng Minh V - sinh năm 1985 (vắng mặt)

Nơi thường trú: Tổ 1, ấp T, xã X, huyện L, tỉnh Đồng Nai.

- Bị đơn: Bà Vũ Thị H - sinh năm 1985 (vắng mặt)

Nơi thường trú: Tổ 1, ấp T, xã X, huyện L, tỉnh Đồng Nai.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Đặng Minh V trình bày:

Ông Đặng Minh V và bà Vũ Thị H tự nguyện chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn vào năm 2009. Quá trình chung sống, vợ chồng chỉ hạnh phúc được thời gian ngắn, sau đó thì nảy sinh mâu thuẫn, cãi nhau thường xuyên. Bà H bỏ đi ra ngoài ở nhà trọ từ tháng 9/2016 và từ đó vợ chồng sống ly thân với nhau. Một thời gian sau, bà H bỏ đi biệt tích mà không có tin tức gì, ông V đã yêu cầu Tòa án tuyên bố bà H mất tích và được giải quyết tại Quyết định sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 08/2019/QĐST-VDS ngày 19/12/2019 của Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc. Nay, ông V yêu cầu được ly hôn với bà H, vì ông thấy rằng vợ chồng không còn khả năng hàn gắn, trở lại chung sống với nhau.

Vợ chồng có 03 con chung gồm các cháu: Đặng Minh T - sinh ngày 26/4/2004, Đặng Thành T1 - sinh ngày 26/9/2009 và Đặng Thị Yến N - sinh ngày 27/4/2012.

Ông Vũ yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Đặng Thành T1 - sinh ngày 26/9/2009 và cháu Đặng Thị Yến N - sinh ngày 27/4/2012. Ông Vũ không yêu cầu bà hiền cấp dưỡng cho con.

Cháu Đặng Minh T - sinh ngày 26/4/2004 đã trưởng thành và có khả năng lao động nên ông Vũ không yêu cầu xem xét việc nuôi dưỡng.

Vợ chồng không có nợ chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết tài sản chung.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập hợp lệ bà Vũ thị H đến làm việc và tham gia phiên tòa xét xử vụ án, nhưng bà H đều vắng mặt. Do bà H vắng mặt, nên Tòa án không ghi nhận được lời trình bày và ý kiến của bà đối với các vấn đề về tình trạng hôn nhân, con chung, tài sản chung và nợ chung.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và nguyên đơn về cơ bản đã chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án.

- Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận cho ông Đặng Minh V được ly hôn với bà Vũ Thị H. Giao con chung cháu Đặng Thành T1 - sinh ngày 26/9/2009 và cháu Đặng Thị Yến N - sinh ngày 27/4/2012 cho ông Vũ trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Ông Vũ không yêu cầu bà H cấp dưỡng cho con chung nên không xem xét giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Ông Đặng Minh V có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bà Vũ Thị H đã được triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa lần thứ hai, nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Vì vậy, phiên tòa tiến hành xét xử vắng mặt ông V và bà H theo quy định tại Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Ông Đặng Minh V và bà Vũ Thị H tự nguyện chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn vào năm 2009, nên hôn nhân của ông bà được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.

Xét yêu cầu ly hôn của ông Đặng Minh V: Ông V trình bày quá trình chung sống vợ chồng chỉ hạnh phúc được thời gian ngắn, sau đó thì nảy sinh mâu thuẫn, cãi nhau thường xuyên. Bà H bỏ nhà đi ra ngoài ở nhà trọ từ tháng 9/2016 và từ đó vợ chồng sống ly thân với nhau. Sau đó, bà H bỏ đi biệt tích mà không có tin tức gì, ông V đã yêu cầu Tòa án tuyên bố bà H mất tích và được giải quyết tại Quyết định sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 08/2019/QĐST-VDS ngày 19/12/2019 của Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc. Nay, bà H bị tuyên bố mất tích và ông V nhận thấy rằng vợ chồng không còn khả năng hàn gắn, trở lại chung sống với nhau. Vì vậy, chấp nhận cho ông V được ly hôn với bà H là có căn cứ.

Về con chung: Ông Vũ yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chưa thành niên là cháu Đặng Thành T1 - sinh ngày 26/9/2009 và cháu Đặng Thị Yến N - sinh ngày 27/4/2012. Xét thấy các cháu hiện nay đang do ông V trực tiếp nuôi dưỡng. Do vậy, chấp nhận giao cháu Đặng Thành T1 - sinh ngày 26/9/2009 và cháu Đặng Thị Yến N - sinh ngày 27/4/2012 cho ông V nuôi dưỡng là phù hợp.

Ông V không yêu cầu bà Hiền cấp dưỡng cho con, nên không xem xét giải quyết.

Về nợ chung: Ông Đặng Minh V khai vợ chồng không có nợ chung, còn bà Vũ Thị H thì không có lời trình bày về nợ chung, nên không xem xét, giải quyết trong vụ án này. Các đương sự được quyền yêu cầu Tòa án giải quyết trong một vụ án khác theo quy định của pháp luật.

Về tài sản chung: Ông Đặng Minh V không yêu cầu Tòa án giải quyết chia tài sản chung, bà Vũ Thị H không có lời trình bày về tài sản chung, nên không xem xét, giải quyết trong vụ án này. Các đương sự được quyền yêu cầu Tòa án giải quyết trong một vụ án khác theo quy định của pháp luật.

Về án phí: Ông Đặng Minh V phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận cho ông Đặng Minh V được ly hôn với bà Vũ Thị H.

2. Về con chung: Giao cháu Đặng Thành T1 - sinh ngày 26/9/2009 và cháu Đặng Thị Yến Nhi - sinh ngày 27/4/2012 cho ông Đặng Minh Vũ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi các cháu đũ 18 tuổi và có khả năng lao động.

Ông Đặng Minh V không yêu cầu bà Vũ Thị H cấp dưỡng cho con.

Bà Vũ Thị H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung theo quy định của pháp luật.

Vì lợi ích của con chung, khi cần thiết ông Đặng Minh V và bà Vũ Thị H được quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như yêu cầu cấp dưỡng cho con.

3. Về tài sản chung: Ông Đặng Minh V không yêu cầu Tòa án giải quyết chia tài sản chung, còn bà Vũ Thị H thì không có lời trình bày về tài sản chung, nên không xem xét, giải quyết trong vụ án này. Các đương sự được quyền yêu cầu Tòa án giải quyết trong một vụ án khác theo quy định của pháp luật.

4. Về nợ chung: Ông Đặng Minh V khai vợ chồng không có nợ chung, còn bà Vũ Thị H thì không có lời trình bày về nợ chung, nên không xem xét, giải quyết trong vụ án này. Các đương sự được quyền yêu cầu Tòa án giải quyết trong một vụ án khác theo quy định của pháp luật.

5. Về án phí: Ông Đặng Minh V phải nộp 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) ông Đặng Minh V nộp theo Biên lai thu số 0010815 ngày 11/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Xuân Lộc được tính trừ vào án phí.

Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

Cỡ chữ