vanban.org

Bản án 90/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận bà Huỳnh Thị H và ông Châu Phú T là vợ chồng.

Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Toà án giải quyết. Về nợ chung: Không có. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn (Hiền - Thiện)"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận bà Huỳnh Thị H và ông Châu Phú T là vợ chồng.
  • Căn cứ chính? Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ TỊNH BIÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 90/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 04-9-2024
“V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi
con khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TỊNH BIÊN, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Võ Thị Ngọc Mỹ.

Các Hội thẩm nhân dân: ông Múth Sô Ny; bà Lương Thị Hoàng Kim.

Thư ký phiên tòa: bà Lê Thị Cẩm Tiên, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Tịnh Biên.

Ngày 04 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Tịnh Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 342/2024/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 10 năm 2023 về việc “tranh chấp hôn nhân và gia đình ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 170/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: bà Huỳnh Thị H, sinh năm 1987; nơi cư trú: Tổ E, khóm X, phường T, thị xã T, tỉnh An Giang.

- Bị đơn: ông Châu Phú T, sinh năm 1986; nơi cư trú: Tổ E, khóm X, phường T, thị xã T, tỉnh An Giang.

Tại phiên toà, nguyên đơn bà Huỳnh Thị H và bị đơn ông Châu Phú T, đều vắng mặt không lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện và lời khai cung cấp trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Huỳnh Thị H trình bày: bà Huỳnh Thị H và ông Châu Phú T quen biết và tìm hiểu nhau, được hai bên gia đình chấp nhận cho làm lễ cưới và chung sống như vợ chồng với nhau kể từ năm 2019 nhưng không có đăng ký kết hôn. Sau khi tổ chức lễ cưới thì vợ chồng chung sống tại tổ E, khóm X, phường T, thị xã T, tỉnh An Giang. Vợ chồng thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng không còn tiếng nói chung, hôn nhân không thể kéo dài nên bà Huỳnh Thị H yêu cầu được ly hôn với ông Châu Phú T. Vợ chồng không có con chung; không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết về tài sản chung và nợ chung.

* Theo lời khai cung cấp trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông Châu Phú T trình bày: Ông Châu Phú T thống nhất với ý kiến của bà H về thời gian đi đến hôn nhân và điều kiện kết hôn, tuy nhiên ông T không đồng ý ly hôn do còn thương vợ; giữa vợ chồng không có con chung; ông T không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết về tài sản chung và nợ chung.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng:

- Về thẩm quyền: Nguyên đơn bà Huỳnh Thị H khởi kiện yêu cầu ly hôn với bị đơn ông Châu Phú T; bị đơn có nơi cư trú tại Tổ E, khóm X, phường T, thị xã T, tỉnh An GiangXét đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình, ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Tịnh Biên theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (viết tắt BLTTDS).

- Về sự vắng mặt của đương sự: bà Huỳnh Thị H có đơn xin xét xử vắng mặt; ông Châu Phú T đã được triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt, không lý do. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đương sự theo quy định tại khoản 2 Điều 227 và khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Về hôn nhân: Nguyên đơn bà Huỳnh Thị H và bị đơn ông Châu Phú T sống chung như vợ chồng từ năm 2019 đến nay chưa đăng ký kết hôn.

Khoản 2 Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Trong trường hợp không đăng ký kết hôn mà có yêu cầu ly hôn thì Tòa án thụ lý và tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng theo quy định tại khoản 1 Điều 14 của Luật này; nếu có yêu cầu về con và tài sản thì giải quyết theo quy định tại Điều 15 và Điều 16 của Luật này.”

Khoản 1 Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng. Quyền, nghĩa vụ đối với con, tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên được giải quyết theo quy định tại Điều 15 và Điều 16 của Luật này.”

Căn cứ quy định pháp luật như viện dẫn nêu trên, thấy rằng nguyên đơn và bị đơn chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2000 đến nay, không đăng ký kết hôn nên không công nhận bà H và ông T là vợ chồng.

Về con chung: Bà Huỳnh Thị H và ông Châu Phú T xác định không có con chung.

Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét trong vụ án.

Về nợ chung: Không có.

Về án phí: Nguyên đơn có đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn nên phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo luật định; bị đơn không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 14, khoản 2 Điều 53 và Điều 131 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Điều 147, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận bà Huỳnh Thị H và ông Châu Phú T là vợ chồng.

2. Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.

3. Về nợ chung: Không có.

4. Về án phí: Bà Huỳnh Thị H phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai số 0009424 ngày 18/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Tịnh Biên, bà Huỳnh Thị H đã nộp đủ án phí. Ông Châu Phú T không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ