- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hình sự - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố N V H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI TỈNH BÌNH PHƯỚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 90/2023/HS-ST Ngày: 20-6-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA LQ 2 NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI, TỈNH BÌNH PHƯỚC
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thu Huệ
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Được, ông La Văn Hợp
-Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Thanh Tuyền - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài tham gia phiên tòa: Ông Quản Văn Thanh - Kiểm sát viên
Ngày 20 tháng 6 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 67/2023/TLST-HS ngày 18 tháng 5 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 85/2023QĐXXST-HS ngày 06 tháng 6 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: N V H, tên gọi khác: #, sinh năm 1994, tại Bình Dương; nơi thường trú: phường Tân A, thành phố T, tỉnh Bình Dương; nơi tạm trú: phường Tân Đ, thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước; nghề ngN B H: Không; trình độ văn hóa: 08/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; quốc tịch: LQ 2 Nam; tôn giáo: Không; con ông N, sinh năm: 1964 và bà M, sinh năm: 1967; có vợ: V, sinh năm 1994 và 01 người con sinh năm 2019; Tiền sự: Không; Tiền án: 02:
-Ngày 16/3/2020, bị Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài xử phạt 06 tháng 12 ngày tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 29/HSST/2020, được tuyên trả tự do tại phiên tòa; chấp hành án phí ngày 01/3/2023;
-Ngày 28/6/2021, bị Tòa án nhân dân huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 77/HSST/2021, chấp hành xong hình phạt tù ngày 18/02/2022.
Nhân thân: Ngày 18/4/2011, bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Đồng Xoài khởi tố bị can về tội “Cố ý gây thương tích”. Ngày 09/10/2011, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Đồng Xoài ra quyết định thay đổi tội danh từ tội “Cố ý gây thương tích” sang tội “Cố ý gây thương tích trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh” quy định tại Điều 105 Bộ luật Hình sự năm 2019 được sửa đổi bổ sung năm 2009. Đến ngày 17/01/2012, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đồng Xoài ra quyết định đình chỉ bị can do bị hại rút đơn yêu cầu khởi tố;
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Đồng Xoài từ ngày 23/11/2022 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.
Người bị hại: Ông B H - sinh năm 1963, trú tại: phường Tân X, thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước, có đơn xin vắng mặt.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Ông LQ 1- sinh năm 1995, trú tại: phường Tân B, thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước, vắng mặt.
- Ông LQ 2 - sinh năm 1991, trú tại: phường Tân Th, thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước, Có đơn xin vắng mặt.
- Bà LQ 3- sinh năm 1974, trú tại: phường Tân B, thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước. Có đơn xin vắng mặt.
Người làm chứng:
- Bà LC 1- sinh năm 1964, trú tại: phường Tân X, thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước, vắng mặt.
- Ông LC 2 - Sinh năm 1996, trú tại:phường Tân X, thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 14 giờ 00 phút ngày 16/11/2022, N V H đi bộ đến phòng trọ số 11B thuộc khu nhà trọ “Trọng Nghĩa” thuộc khu phố Tân Trà, phường Tân Xuân, thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước để chơi với Nam (không rõ nhân thân lai lịch). Sau đó, N B H đi qua phòng trọ số 3 của ông B H. N B H nhìn thấy ông đang ngủ và trên nóc tủ lạnh trong phòng có 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 6Splus nên nảy sinh ý định lấy trộm chiếc điện thoại. N B H đi vào phòng, đến gần chiếc tủ lạnh lấy trộm điện thoại của ông Toàn rồi đi về. Ngày 17/11/2022, N B H đi xe Taxi đến cửa hàng điện thoại di động và cầm đồ “LQ 1” thuộc khu phố Bình Thiện, phường Tân Thiện, thành phố Đồng Xoài do anh LQ 1 làm chủ thì gặp LQ 2. N B H nhờ LQ 2 điều khiển xe mô tô chở N B H đến trước cửa quán internet KingDom thuộc khu phố Tân Trà, phường Tân Xuân, thành phố Đồng Xoài. Tại đây, LQ 2 hỏi N B H mượn điện thoại của N B H thì N B H đưa cho LQ 2 mượn chiếc điện thoại đã lấy trộm của ông Toàn. Sau đó, LQ 2 hỏi N B H về việc xin được cầm cố chiếc điện thoại đã mượn N B H thì N B H đồng ý. Ngày 18/11/2022, LQ 2 đem điện thoại nhãn hiệu Iphone 6Splus đến cửa hàng điện thoại di động và cầm đồ “LQ 1” cầm cho anh LQ 1 được số tiền 1.200.000 đồng. Ngày 18/11/2022, anh B H đến Cơ quan Công an trình báo sự việc. Ngày 23/11/2022, bà LQ 3là mẹ của LQ 1đến cửa hàng “LQ 1” chuộc lại điện thoại và trả lại cho N V H. Ngày 23/11/2023, N V H đến Công an phường Tân Xuân, thành phố Đồng Xoài đầu thú.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 100/KLĐG, ngày 28/11/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự kết luận: 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 6Splus 64 Gb, màu xám, số Imel 1: 353289074210677, đã qua sử dụng, còn hoạt động bình thường trị giá 2.500.000 đồng.
Tại Bản cáo trạng số 87/CTr-VKS ngày 17/5/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước đã truy tố bị cáo N V H về tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự;
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng thêm điểm h, s, khoản 1, Điều 51, điều 38, Điều 50 của Bộ luật Hình sự: Đề nghị phạt N V H mức án từ 30 đến 36 tháng tù; Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng; Trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường nên không xem xét.
Tại phiên tòa: Bị cáo N V H xác nhận nội dung Bản cáo trạng là đúng với hành vi bị cáo thực hiện, không tranh luận và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài, Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo; người bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến và khiếu nại gì. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội: Tại phiên tòa N V H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng số 87/CTr-VKS ngày 17/5/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước đã truy tố.
Lời khai tại phiên tòa phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, biên bản thu giữ tài sản, đồ vật, Bản kết luận điều tra, vật chứng vụ án cùng các chứng cứ tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa; thấy phù hợp về thời gian, địa điểm và phương thức thực hiện hành vi phạm tội của bị cáo. Do vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Ngày 16/11/2022, N V H lén lút lấy trộm 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 6Splus 64 Gb, màu xám của anh B H, giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt theo Hội đồng định giá kết luận là 2.500.000 đồng.
N V H là người đã thành niên, có đủ năng lực hành vi dân sự, nhận thức rõ hành vi lén lút trộm cắp tài sản của người khác vi phạm pháp luật, nhưng vì mục đích vụ lợi mà cố tình thực hiện, thể hiện sự xem thường pháp luật, nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu về tài sản của người bị hại là khách thể được pháp luật bảo vệ, làm mất trật tự trị an tại địa phương.
Bản thân bị cáo từ năm 2020 đến nay liên tục chiếm đoạt tài sản của công dân và bị Tòa án xét xử, chưa được xóa án tích và không có hướng sửa chữa sai lầm, không biết ăn năn hối cải, vẫn tiếp tục đi vào con đường phạm tội, thể hiện sự xem thường pháp luật, khó giáo dục cải tạo. Do đó, lần phạm tội này bị cáo phải chịu tình tiết định khung tăng nặng “Tái phạm nguy hiểm” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
Tình tiết tăng nặng: không
Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của mình; tài sản chiếm đoạt có giá trị không lớn và đã thu hồi trả lại cho người bị hại.
Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm do hành vi và hậu quả bị cáo gây ra cho xã hội, căn cứ vào các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân cần xét xử bị cáo N V H một mức án nghiêm khắc.
Hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có thu nhập nên không áp dụng.
[3] Đối với, LQ 2 mượn điện thoại N B H lấy trộm được của anh Toàn sử dụng sau đó có hỏi xin N B H để mang đi cầm cho LQ 1; LQ 1 là người nhận cầm cố chiếc điện thoại, nhưng cả LQ 2 và LQ 1 không biết đây là tài sản do N B H trộm cắp của anh B H nên chưa có cơ sở xử lý.
[4] Trách nhiệm dân sự và vật chứng vụ án:
- B H đã nhận lại tài sản là 01 điện thoại Iphone 6Splus 64 Gb và không yêu cầu gì về bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Bà LQ 3 (mẹ LQ 2) bỏ số tiền 1.200.000 đồng ra chuộc lại điện thoại trả cho bị hại, nhưng bà không yêu cầu hoàn trả lại nên không xem xét.
[5] Về đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố N V H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
2. Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 50 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt N V H 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 23/11/2022.
3. Trách nhiệm dân sự, vật chứng: Không ai yêu cầu nên không xem xét.
4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Bị cáo N V H phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
5. Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước; - VKSND thành phố Đồng Xoài; - VKSND tỉnh Bình Phước; - Chi cuïc THADS thành phố Đồng Xoài; - Sở Tư pháp tỉnh Bình Phước. - CA thành phố Đồng Xoài; - Phòng PV 06 Công an tỉnh BP; - Người tham gia tố tụng; - Lưu HS-VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa |