vanban.org

Bản án 90/2023/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Ngũ Hành Sơn, TP Đà Nẵng Tuyên án 22/11/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Võ Văn C phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

1/ Căn cứ: điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự; điểm s khoản 1Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo Võ Văn C 03 năm (ba năm) tù. Thời hạn tù tính từ ngày 14/8/2023. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Võ Văn C phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN NGŨ HÀNH SƠN
TP. ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 90 /2023/HS-ST
Ngày: 22 - 11 - 2023

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGŨ HÀNH SƠN, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lương Thị Anh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông: Nguyễn Dũng

Ông: Trần Văn Sơn

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Trang - Là Thư ký Tòa án nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng.

Đại diệnViện Kiểm sát nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Thúy Liên - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 88/2023/HS-ST ngày 26 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 88/2023/QĐXXST - HS ngày 08 tháng 11 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Võ Văn C; Giới tính: nam; Tên gọi khác: R; Sinh ngày: 28/9/1993, tại TP.Đà Nẵng; Nơi ĐKHKTT: tổ 09 P.H, quận C, TP.Đ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 4/12; Tiền án: 02, cụ thể:

+ Ngày 09/10/2018, bị TAND Q.Thanh Khê, TP.Đà Nẵng xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại Khoản 1 Điều 173 BLHS; tại Bản án hình sự sơ thẩm số 98/2018/HSST.

+ Ngày 11/3/2019, bị TAND Q.Thanh Khê, TP.Đà Nẵng xử phạt 04 năm tù về tội “Cướp giật tài sản” quy định tại Điểm g Khoản 2 Điều 171 BLHS; tại Bản án hình sự sơ thẩm số 17/2019/HSST.Tổng hợp hình phạt 02 Bản án của TAND Q.Thanh Khê, TP.Đà Nẵng là 05 năm tù. Chấp hành xong ngày 15/01/2023 tại Giấy chứng nhận chấp hành xong án phạt tù số 56/GC của Trại giam Bình Điền.

Tiền sự: Ngày 23/7/2018, bị Công an Q.Hải Châu, TP.Đà Nẵng xử phạt hành chính với hình thức phạt tiền 1.500.000 đồng, về hành vi “Trộm cắp tài sản”; tại Quyết định số 100/QĐ-XPHC (chưa chấp hành).

Nhân thân: Ngày 19/6/2010, bị TAND Q.Cẩm Lệ, TP.Đà Nẵng xử phạt 05 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích” và “Trộm cắp tài sản”; tại Bản án hình sự sơ thẩm số 19/2010/HSST. Chấp hành xong ngày 24/5/2014.

Cha: Võ Ứ và mẹ: Huỳnh Thị N (đều còn sống);Gia đình có 04 anh em, bị cáo là con thứ hai.

Bị cáo bị bắt ngày 14/8/2023 hiện đang bị tạm giam có mặt tại phiên tòa.

* Bị hại: Anh Trần Hồng P, sinh năm: 2000. Địa chỉ: Số 27 đường Tố H, phường H, quận H, TP Đ. Vắng mặt.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

- Anh Nguyễn Văn Th, sinh năm: 1999. HKTT: Thôn L, xã B, huyện T, tỉnh Q. Địa chỉ: 110 Tr, phường H, quận C, TP Đà Nẵng. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 14/8/2023, Võ Văn C điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Vario BKS 92H1-865.56 chở anh Nguyễn Văn Th đến bãi biển cuối đường Hồ Xuân Hương thuộc P.Khuê Mỹ, Q.Ngũ Hành Sơn, TP.Đà Nẵng để tắm biển. Đến nơi, anh Thịnh đi xuống biển tắm còn Cường đi dạo trên bãi biển nhằm mục đích tìm kiếm tài sản để trộm cắp. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, Cường phát hiện 01 điện thoại nhãn hiệu Xiaomi màu đen của anh Trần Hồng P để trong túi quần cá nhân màu đen rồi cuộn lại trong áo thun màu đen bỏ trên đôi dép của anh Thịnh để trên bờ biển. Cường quan sát xung quanh không có ai trông giữ nên đi đến lấy trộm điện thoại của anh Phúc bỏ vào túi quần rồi bỏ đi về phía xe mô tô để trên đường. Cường đi được khoảng 50m thì bị anh Hồ Thăng Trinh và anh Phan Thanh Trinh là nhân viên bảo vệ bờ biển phát hiện, bắt quả tang và thông báo, bàn giao Cường cho Công an P.Khuê Mỹ, Q.Ngũ Hành Sơn, TP.Đà Nẵng.

* Tại Kết luận định giá tài sản số: 56 ngày 17/8/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự UBND Q.Ngũ Hành Sơn, TP.Đà Nẵng kết luận 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Xiaomi Blach Sharhk 4 giá trị: 7.960.000 đồng.

Với nội dung trên, tại bản cáo trạng số 85/CT- VKS ngày 25/10/2023 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng đã truy tố bị cáo Võ Văn C về tội “Trộm cắp tài sản ” quy định tại điểm g Khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

* Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng thực hành quyền công tố nhà nước vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố Võ Văn C về tội danh như đã nói trên và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố Võ Văn C phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng Điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt Võ Văn C từ 03 năm đến 04 năm tù giam.

Về xử lý vật chứng: Cơ quan CSĐT Công an Q.Ngũ Hành Sơn, TP.Đà Nẵng đã trả lại các tang vật, đồ vật thu giữ cho chủ sở hữu Cụ thể: Anh Trần Hồng P: 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Xiaomi Black Shark 4; Anh Nguyễn Văn Th: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vario BKS 92H1- 865.58; 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Remi; Võ Văn C: 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Vivo Y15s do không liên quan đến hành vi phạm tội; anh Cường yêu cầu giao tài sản trên cho bà Huỳnh Thị Năm (là mẹt ruột) bảo quản.

* Về dân sự: Sau khi nhận lại tài sản bị trộm, anh Trần Hồng P không có yêu cầu gì về dân sự nên không đề cập đến.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và không có ý kiến tranh luận gì với phần luận tội của Kiểm sát viên.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đã nhận thức rõ hành vi phạm tội của mình và mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo chấp hành án tốt sớm về với gia đình .

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Ngũ Hành Sơn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay, bị cáo Võ Văn C đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo, xét lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại và cùng các tài liệu điều tra thu thập đầy đủ có tại hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở để xác định như sau: Khoảng 17 giờ ngày 14/8/2023, tại khu vực bãi biển cuối đường Hồ Xương Hương, thuộc P.Khuê Mỹ, Q.Ngũ Hành Sơn, TP.Đà Nẵng, Võ Văn C có hành vi lén lút trộm cắp 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Xiaomi trị giá 7.960.000 đồng của anh Võ Hồng Phúc để trên bãi biển. Trước đó, Võ Văn C có 02 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” và “Cướp giật tài sản” có tình tiết tái phạm, chưa được xóa án tích, lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm.

Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét hành vi phạm tội thì thấy: Bị cáo có hành vi lén lút trộm cắp 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Xiaomi trị giá 7.960.000 đồng Hành vi này là lỗi cố ý đủ yếu tố cấu thành tội“Trộm cắp tài sản” , trước đó, Võ Văn C đã có 02 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” và “Cướp giật tài sản” được xác định là tái phạm, phạm tội lần này thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm và hành vi của bị cáo được qui định tại điểm g khoản 2 Điều 173 BLHS.

Xét tính chất vụ án thì thấy, bị cáo còn trẻ, có sức khỏe lẽ ra sau khi chấp hành các bản án trước đây xong phải lấy đây làm bài học tu dưỡng bản thân nhưng bị cáo đã không chịu lao động lương thiện nuôi sống bản thân cũng như góp phần có ích cho xã hội, mà ngược lại bị cáo lười lao động muốn hưởng thụ dễ dàng mặc dù biết hành vi chiếm đoạt tài sản này là trái pháp luật. Hành vi này xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an, an toàn xã hội, gây tâm lý hoang mang trong quần chúng nhân dân tại địa phương.

Xét nhân thân của bị cáo thì thấy: Bị cáo có nhân thân xấu, tuy nhiên tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo nên áp dụng quy định tại điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ này. Xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ dài để bị cáo cải tạo nhằm giáo dục riêng cũng như phòng ngừa chung.

Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra đã trả lại các tài sản cho chủ sở hữu nên không đề cập đến.

Về phần dân sự: Người bị hại không có yêu cầu gì thêm nên không đề cập đến

Đối với Nguyễn Văn Th không biết, không tham gia với Võ Văn C thực hiện hành vi trộm cắp tài sản.Cơ quan CSĐT Công an Q.Ngũ Hành Sơn, TP.Đà Nẵng không đề cập xử lý.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng.

Xét các đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa hôm nay phù hợp với nhận định của HĐXX nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Võ Văn C phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

1/ Căn cứ: điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự; điểm s khoản 1Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Võ Văn C 03 năm (ba năm) tù. Thời hạn tù tính từ ngày 14/8/2023.

2/ Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng.

Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng các người bị hại và người liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc trích sao kết quả phiên tòa.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ