vanban.org

Bản án 90/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh Tuyên án 31/08/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 318; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố các bị cáo Dương Văn K (Quậy), Nguyễn Văn P (Thúi), Đặng Khắc D và Nguyễn Văn L phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”. Xử phạt bị cáo Dương Văn K (Quậy) 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 05 (năm) năm, thời điểm bắt đầu tính thời gian thử thách là ngày … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "GÂY RỐI - phạm tội gây rối trật tự công cộng (điều 318 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? 1/ Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 318; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự giảm nhẹ một phần hình phạt; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN GÒ DẦU
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 90/2023/HS-ST
NgàY: 31-8-2023.

NHÂN D

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ DẦU, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Trần Thanh Vũ.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Trần Thị Đào

2. Bà Huỳnh Thị P Loan

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Lê Anh Thư – Thư ký Toà án nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Lê Đình Hữu Hoàng – Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 8 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 69/2023/TLST-HS ngày 05 tháng 7 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 75/2023/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 8 năm 2023 đối với các bị cáo:

1/ Dƣơng Văn K, tên gọi khác: Quậy, sinh năm 1995, tại tỉnh Tây Ninh, nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và nơi cư trú hiện nay: Ấp TL, xã DT, thị xã TB, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Công an viên; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không có; quốc tịch: Việt Nam; con ông Dương Văn Lai và bà Nguyễn Thị Bán; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không có; bị cáo bị bắt tạm giam ngày 18/4/2023, đến ngày 28/6/2023 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn cho gia đình bảo lĩnh. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2/ Nguyễn Văn P, tên gọi khác: Thúi, sinh năm 1994, tại tỉnh Tây Ninh, nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: Ấp Bến Kinh, xã DT, thị xã TB, tỉnh Tây Ninh; nơi cư trú hiện nay: Ấp 2, xã Bàu Đồn, huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Cao Đài; quốc tịch: Việt Nam; con Nguyễn Văn Dềnh và bà Phạm Thị Ý; vợ: Trần Hồng Tươi, con: Có 02 người, lớn sinh năm 2020 và nhỏ sinh năm 2021; tiền án, tiền sự: Không có; bị cáo bị bắt tạm giam ngày 18/4/2023, đến ngày 12/5/2023 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn cho gia đình bảo lĩnh. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

3/ Đặng Khắc D, tên gọi khác: Không có, sinh năm 1989, tại tỉnh Tây Ninh, nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và nơi cư trú hiện nay: Ấp TL, xã DT, thị xã TB, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không có; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Văn No và bà Phạm Thị Cấn; vợ: Trần Thị Kim Phượng, con: Có 02 người, lớn sinh năm 2013 và nhỏ sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: Không có; bị cáo bị bắt tạm giam ngày 18/4/2023, đến ngày 12/5/2023 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn cho gia đình bảo lĩnh. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

4/ Nguyễn Văn L, tên gọi khác: Không có, sinh năm 1987, tại tỉnh Tây Ninh, nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và nơi cư trú hiện nay: Ấp TL, xã DT, thị xã TB, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không có; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Dùm (đã chết) và bà Huỳnh Thị Bích; vợ: Huỳnh Thị Trâm, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không có; bị cáo bị bắt tạm giam ngày 18/4/2023, đến ngày 12/5/2023 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn cho gia đình bảo lĩnh. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Anh Đặng Đức N, sinh năm 1995, địa chỉ: Khu phố 1, thị trấn Tân Châu, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh (vắng mặt);

- Anh Đặng Ánh H, sinh năm 1973, địa chỉ thường trú: Số 5, đường số 4, khu dân cư Cityland Parhiis, phường 10, quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh, địa chỉ tạm trú: Khu công nghiệp Phước Đông – Bời Lời (vắng mặt);

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 17/4/2023, sau khi uống bia tại xã DT, thị xã TB, tỉnh Tây Ninh, Dương Văn K điều khiển xe ô tô biển số 70A-308.81 chở Nguyễn Văn L, Đặng Khắc D, Nguyễn Văn P và Võ Tấn Thương đi đến khu vực xã Phước Đông, huyện Gò Dầu tìm chỗ hát karaoke. Khi lưu thông trên đường D11 trong khu công nghiệp Phước Đông thuộc xã Phước Đông, huyện Gò Dầu, K liên tục bóp còi xe nên anh Đặng Đức N đang điều khiển xe ô tô biển số 70C-031.82 lưu thông cùng chiều phía trước chửi K. Lúc này, P kêu K điều khiển xe đuổi theo đánh anh N thì K, L và D đồng ý, riêng anh Thương sai rượu nên ngủ trong xe không biết.

Khi đến trước Công ty Sailun trong khu công nghiệp Phước Đông, K điều khiển xe ô tô chặn đầu xe mô tô của anh N, rồi cùng với L, D và P xuống xe dùng tay, chân đánh anh N ngã xuống đường rơi nón bảo hiểm. K nhặt nón bảo hiểm, rồi cầm đánh vào đầu của anh N thì bảo vệ Công ty Sailun can ngăn. K đi đến xe ô tô lấy cây gậy 03 khúc, rồi cầm đánh nhiều cái vào người của anh N thì bảo vệ Công ty Sailun căn ngăn. Lúc này, anh Đặng Ánh H là Giám đốc Khu công nghiệp Phước Đông chạy xe mô tô đến vị trí đánh nhau để can ngăn và gọi điện thoại báo Công an thì K điều khiển xe ô tô chở L, D và P chạy đến chỗ anh H đang đứng. Rồi cả nhóm xuống xe đuổi đánh anh H thì anh H bỏ chạy vào Công ty Sailun. Do bảo vệ can ngăn nên nhóm của K lên xe ô tô chạy được một đoạn 50 mét thì bị bảo vệ khu công nghiệp yêu cầu dừng xe nên cả nhóm xuống xe. D đi bộ đến vị trí anh H đang đứng tại cổng, rồi dùng tay kẹp cổ vật anh H ngã xuống đất thì bảo vệ khu công nghiệp chạy đến can ngăn nên anh H đứng dậy dùng tay đánh vào mặt của D nhưng không gây thương tích. Thấy vậy, K, L và P chạy đến đuổi đánh anh H nhưng bị bảo vệ khu công nghiệp can ngăn nên không đánh được, rồi nhóm của K lên xe chạy đi. Sau đó, anh N được đưa đến Bệnh viện Xuyên Á Tây Ninh cấp cứu.

Quá trình điều tra, K, P, D và L đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của mình.

Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 109 ngày 15/5/2023 của Trung tâm pháp ý thuộc Sở y tế tỉnh Tây Ninh kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Đặng Đức N là 5%.

Kết quả thu giữ và xử lý vật chứng: Có bảng thống kê vật chứng kèm theo.

Trách nhiệm dân sự: Anh H không yêu cầu bồi thường. Gia đình của K, P, D và L đã bồi thường cho anh N 60.000.000 đồng nên anh N đã làm đơn bãi nại.

Tại bản Cáo trạng số 71/CT-VKSGD ngày 30 tháng 6 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh đã truy tố các bị cáo Dương Văn K, Nguyễn Văn P, Đặng Khắc D và Nguyễn Văn L về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Dầu giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Dương Văn K, Nguyễn Văn P, Đặng Khắc D và Nguyễn Văn L phạm tội “Gây rối trật tự công cộng” và đề nghị xử phạt các bị cáo mức án như sau:

Bị cáo Dương Văn K mức án từ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng đến 03 (ba) năm tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 05 (năm) năm.

Bị cáo Nguyễn Văn P mức án từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 04 (bốn) năm đến 05 (năm) năm.

Bị cáo Đặng Khắc D mức án từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 04 (bốn) năm đến 05 (năm) năm.

Bị cáo Nguyễn Văn L mức án từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 04 (bốn) năm đến 05 (năm) năm.

Đề nghị xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật

Lời nói sau cùng của các bị cáo: Các bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Gò Dầu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Dầu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo. Lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, lời khai người làm chứng, các vật chứng được thu giữ, cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Cụ thể: Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 17/4/2023, tại Khu công nghiệp Phước Đông thuộc xã Phước Đông, huyện Gò Dầu, Dương Văn K, Nguyễn Văn P, Đặng Khắc D và Nguyễn Văn L có hành vi dùng tay, chân, nón bảo hiểm, cây gậy 03 khúc đuổi đánh anh Đặng Ánh H, đánh anh Đặng Đức N gây thương tích 05% và gây náo loạn khu vực công cộng.

Vụ án mang tính chất N trọng, các bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự công cộng, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn xã hội ở địa P nên phải chịu trách nhiệm hình sự. Các bị cáo biết rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Cho nên việc xử lý trách nhiệm hình sự các bị cáo mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho xã hội.

Tình tiết tăng nặng: Không.

Tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, biết ăn năn hối cải, gia đình của K, P, D và L đã bồi thường cho anh N 60.000.000 đồng và anh N đã làm đơn bãi nại nên bị cáo được áp dụng điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự giảm nhẹ một phần hình phạt là phù hợp. Ngoài ra, trong quá tình công tác tại Công an xã DT, thị xã TB, K được Ủy ban nhân dân tỉnh Tây Ninh tặng giấy khen; L có cha mẹ ruột là người có công với nhà nước nên các bị cáo K, L cũng được xem xét áp dụng khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự giảm nhẹ hình phạt.

Về vai trò của các bị cáo: Bị cáo K trực tiếp dùng gậy 03 khúc đánh anh N gây thương tích; Các bị cáo P, D và L cùng với K đánh anh H, anh N nên phải chịu trách nhiệm hình sự sau bị cáo K và bằng nhau trong vụ án.

Từ căn cứ nêu trên xét thấy việc truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Dầu đối với các bị cáo là có căn cứ. Đã có đủ cơ sở kết luận các bị cáo Dương Văn K, Nguyễn Văn P, Đặng Khắc D và Nguyễn Văn L đã phạm tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự.

Sau khi xem xét tích chất, mức độ hành vi nguy hiểm của các bị cáo, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng khung hình phạt tù có thời hạn. Tuy nhiên, các bị cáo là người có nhân thân tốt, ngoài lần phạm tội này, các bị cáo luôn chấp hành đúng chính sách, pháp luật và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân ở nơi cư trú, nơi làm việc; các bị cáo đều có từ 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trở lên, trong đó có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 và 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự; các bị cáo đều có nơi cư trú rõ ràng, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền có thể giám sát, giáo dục; Các bị cáo đều có khả năng tự cải tạo và việc cho hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 Bộ luật hình sự không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Vì vậy, không cần phải bắt các bị cáo chấp hành hình phạt tù.

Bồi thường thiệt hại: Anh H không yêu cầu bồi thường. Gia đình của K, P, D và L đã bồi thường cho anh N số tiền là 60.000.000 đồng, anh N không yêu cầu bồi thường gì thêm nên cần ghi nhận.

Xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, các vật chứng được xử lý như sau: 01 (một) gậy 03 khúc có cán ốp nhựa màu đỏ, đã qua sử dụng; 01 (một) nón bảo hiểm màu đen, đã qua sử dụng là vật chứng không có giá trị sử dụng nên cần tuyên tịch thu tiêu hủy.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1/ Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 318; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố các bị cáo Dương Văn K (Quậy), Nguyễn Văn P (Thúi), Đặng Khắc D và Nguyễn Văn L phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.

Xử phạt bị cáo Dương Văn K (Quậy) 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 05 (năm) năm, thời điểm bắt đầu tính thời gian thử thách là ngày tuyên án sơ thẩm.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn P (Thúi) 02 (hai) năm tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 04 (bốn) năm, thời điểm bắt đầu tính thời gian thử thách là ngày tuyên án sơ thẩm.

Xử phạt bị cáo Đặng Khắc D 02 (hai) năm tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 04 (bốn) năm, thời điểm bắt đầu tính thời gian thử thách là ngày tuyên án sơ thẩm.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L 02 (hai) năm tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 04 (bốn) năm, thời điểm bắt đầu tính thời gian thử thách là ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Nguyễn Văn P (Thúi) cho Ủy ban nhân dân xã Bàu Đồn, huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Giao các bị cáo Dương Văn K (Quậy), Đặng Khắc D và Nguyễn Văn L cho Ủy ban nhân dân xã DT, thị xã TB, tỉnh Tây Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp các bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2/ Bồi thường thiệt hại: Ghi nhận anh Đặng Ánh H không yêu cầu các bị cáo bồi thường; Ghi nhận gia đình các bị cáo đã bồi thường cho anh Đặng Đức N số tiền 60.000.000 đồng, anh N không yêu cầu bồi thường gì thêm.

3/ Xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tuyên tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) gậy 03 khúc có cán ốp nhựa màu đỏ, đã qua sử dụng; 01 (một) nón bảo hiểm màu đen.

4/ Án phí:

Án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Các bị cáo Dương Văn K (Quậy), Nguyễn Văn P (Thúi), Đặng Khắc D và Nguyễn Văn L y, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5/ Quyền kháng cáo:

- Các bị cáo Dương Văn K (Quậy), Nguyễn Văn P (Thúi), Đặng Khắc D và Nguyễn Văn L, bị hại anh Đặng Đức N, anh Đặng Ánh H được quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: anh Đặng Đức N và anh Đặng Ánh H được quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ