- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án Nguyễn Tấn T phạm tội Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tấn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 173 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ TỈNH LÂM ĐỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 90/2023/HS-ST Ngày: 23-5-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thanh Long
Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Nguyễn Huy Khoa
2/ Bà Nguyễn Thị Lan Hương
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tấn – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Phi H - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đ xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 83/2023/TLST-HS ngày 20 tháng 4 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 106/2023/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 5 năm 2023 đối với bị cáo:
* Bị cáo: Nguyễn Tấn T, sinh năm 1994; nơi sinh: Long An; nơi ĐKNKTT: Ấp An Hòa, xã B, huyện Đ H, tỉnh Long An; nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 3/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: kinh; Tôn giáo: không; Cha: ông Nguyễn Văn Thắm, sinh năm: 1949, Mẹ: Nguyễn Thị Phượng, sinh năm: 1963; Anh, chị, em ruột: có 05 người, lớn nhất sinh năm 1983, nhỏ nhất là bị cáo. Tiền sự: Không; Tiền án: có 02 tiền án, cụ thể:
- Bản án số 40/2013/HSST ngày 26/6/2013 của Tòa án nhân dân huyện Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh (nay là Thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh) xử phạt 04 năm 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản và Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, bị cáo chấp hành xong về hình phạt tù nhưng chưa chấp hành về phần trách nhiệm dân sự trong bản án và chưa chấp hành về án phí hình sự sơ thẩm.
- Bản án số 118/2022/HS-ST ngày 23/9/2022 của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An xử phạt 03 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, bị cáo chưa chấp hành hình phạt do bị cáo bỏ trốn và bị truy nã.
Nhân thân:
- Ngày 26/3/2010 bị Ủy ban nhân dân huyện Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh (nay là Thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh) áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng thời hạn 24 tháng về hành vi trộm cắp tài sản.
- Tại Bản án số 82/2012/HSST ngày 26/9/2012 của Tòa án nhân dân huyện Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh (nay là Thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh) xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, bị cáo chấp hành xong về hình phạt tù nhưng chưa chấp hành về phần trách nhiệm dân sự trong bản án và chưa chấp hành về án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/11/2022, hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đ. Có mặt
* Bị hại:
- Ông Nguyễn Quang Tr, sinh năm 1981
- Bà Đậu Thị L, sinh năm 1953
Cùng trú tại: 17 Trần Hưng Đạo, thị trấn L N, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt
- Ông Hà Duy A, sinh năm 1991
Trú tại: 62 Nguyễn Tuân, thị trấn L N, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt
- Anh Lưu Ngọc H, sinh năm 2007
Trú tại: Thôn Đông Hồ, xã P, huyện Đ D, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt
- Ông Phạm Minh Th, sinh năm 1993
Trú tại: Thôn Kim Bồng, xã Kim Đường, huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội. Vắng mặt
- Ông Phạm Hoàng A, sinh năm 2003
Trú tại: Quán Hoa Xoan 2, Quốc lộ 20, thị trấn L N, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nguyễn Đức Anh T, sinh năm 1997
Trú tại: 48 Tôn Thất Tùng, phường 8, thành phố Đ L, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt
- Ông Trần Xuân Đ, sinh năm 1995
Trú tại: 194 Ngô Quyền, phường 6, thành phố Đ L, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các T liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do bản tính ham chơi, lười lao động, không có công ăn việc làm ổn định nên Nguyễn Tấn T đã nảy sinh ý định trộm cắp tài sản của người khác bán lấy tiền tiêu xài. Thực hiện ý định, Nguyễn Tấn T thường xuyên thay đổi chỗ ở để dễ tiếp cận tài sản của người dân và trốn thoát sau khi thực hiện hành vi trộm cắp, cụ thể như sau:
Vụ thứ nhất: Vào ngày 10/10/2022, Nguyễn Tấn T đến quán Hoa Xoan 2, địa chỉ tại 298 Quốc lộ 20, thị trấn L N, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng và gặp ông Hà Huy Anh là chủ quán để xin làm nhân viên phục vụ của quán và được ông Hà Huy Anh đồng ý. T vào làm việc tại quán Hoa Xoan 2 thì ông Hà Huy Anh cho T ăn ngủ tại quán, T làm việc bình thường đến tối ngày 11/10/2022 sau khi dọn dẹp quán xong thì đi ngủ ở trên gác cùng với ông Lưu Ngọc H, ông Phạm Minh Th và anh Phạm Hoàng Anh. T ngủ đến khoảng hơn 4 giờ sáng ngày 12/10/2022 thì T tỉnh dậy và nhìn thấy một chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Apple Iphone XS Max 64 GB màu vàng gold để ở trên giường và một chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Vsmart số loại Joy 3 màu xám đen đang sạc nên T nảy sinh ý định trộm cắp 2 chiếc điện thoại trên để bán lấy tiền tiêu xài. T lấy 2 chiếc điện thoại trên bỏ vào túi đồ, thu dọn đồ đạc của T để trốn đi khỏi quán, sau đó T đi xuống dưới và tiếp tục đi đến quầy tính tiền với mục đích xem có T sản gì không để lấy trộm. Khi đến quầy tính tiền T nhìn thấy chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Apple số loại 6 Plus 64GB màu xám và số tiền 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) cùng một chiếc máy vi tính Laptop, nhãn hiệu Dell số loại Studio 1557, màn hình 15.6 Inch đang để ở trên quầy tính tiền nên T lấy điện thoại và tiền bỏ vào trong túi quần và tháo dây bỏ Laptop vào balo của T rồi T đi ra ngoài sân quán. Khi ra ngoài T nhìn thấy chiếc xe mô tô màu tím nho, không có yếm, số loại xe C110, không có gương chiếu hậu 2 bên, không có biển kiểm soát đang để ở sân, do xe không cần chìa khóa nên T đẩy xe ra cổng rồi mở cổng và điều khiển xe đi về thành phố Hồ Chí Minh. Khi đi đến huyện Di Linh, T không rõ địa điểm, nhận thấy xe đã cũ không chạy được nên T đã bán chiếc xe mô tô này cho một người phụ nữ bán ve chai ở dọc đường với giá 700.000đ (bảy trăm ngàn đồng). Sau đó, T bắt xe về thành phố Hồ Chí Minh, khi đi đến khu vực chợ Đầu Mối ở huyện Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh, T bán chiếc điện thoại Iphone XS Max cho tiệm điện thoại (T không nhớ tên tiệm cũng như địa chỉ) với giá 500.000đ (năm trăm ngàn đồng). Sau đó, T bán tiếp chiếc điện thoại Iphone 6 Plus và máy vi tính Laptop (T không nhớ tên tiệm cũng như địa chỉ) được số tiền 500.000đ (năm trăm ngàn đồng). Đối với chiếc điện thoại Vsmart Joy 3, T dùng một thời gian đem bán cho tiệm điện thoại (T không nhớ tên tiệm cũng như địa chỉ) được số tiền 600.000đ (sáu trăm ngàn đồng) để tiêu xài cá nhân hết.
Vụ thứ hai: Vào ngày 04/11/2022, T đến huyện Đ vào quán Internet trên đường Sư Vạn Hạnh để chơi, do không có tiền tiêu xài nên T tiếp tục nảy sinh ý định đi trộm cắp T sản. T đi đến quán cà phê Gió Núi địa chỉ tại số 17 Trần Hưng Đạo, thị trấn L N, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng do ông Nguyễn Quang Tr làm chủ. Trước đây, T có thuê mặt bằng để buôn bán trước cửa quán nên T biết đường đi và không gian bên trong quán. T đi vào con đường hẻm ở bên cạnh quán rồi trèo qua bức tường gạch đi vào trong quán cà phê Gió Núi. Khi vào quán T đi đến quầy tính tiền của quán nhưng không tìm thấy đồ đạc, T sản gì. T tiếp tục đi ra ngoài và thấy bên cạnh quán có căn nhà phía tầng một của căn nhà có cửa đang mở đèn sáng nên T lấy một cái thang bằng sắt để ở quán cà phê và dựng thang rồi leo lên tầng một của căn nhà. T đi vào phòng đầu tiên thì thấy bà Trịnh Kim Ngân và cháu Nguyễn Minh Anh đang nằm ngủ, T lấy một chiếc điện thoại nhãn hiệu Apple, số loại Iphone 13, loại 128G, màu hồng đang sạc để ở trên giường bỏ vào túi quần. T tiếp tục đi qua phòng bên cạnh thì thấy ông Nguyễn Quang Tr đang nằm ngủ trên giường một mình ở bên cạnh có chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Apple số loại 13 Pro Max dung lượng 512GB màu xanh đang để ở trên giường, 01 Laptop nhãn hiệu Dell, số loại Vostro 153510 màu xám, 01 xấp tiền, trong đó có nhiều loại tiền mệnh giá khác nhau được buộc dây thun với tổng số tiền là 1.700.000đ (một triệu bảy trăm ngàn đồng), 01 ví da màu đen, bên trong có một số CCCD, CMND và nhiều thẻ ngân hàng T lấy tất cả bỏ vào túi quần và lấy Laptop cầm trên tay. T tiếp tục đi đến cầu thang rồi đi xuống tầng trệt đi vào phòng sát với cầu thang thì thấy ông Nguyễn Quang Vinh đang ngủ bên cạnh có điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, số loại J400 màu trắng, T lấy bỏ vào túi quần và đi ra ngoài. Sau đó T đi đến cửa sau của căn nhà mở cửa rồi đi ra ngoài quán cà phê thì T thấy có nhiều xe mô tô đang dựng ở sân T lấy 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda kiểu dáng Wave RSX, biển số 49E1 – 252.76 màu đỏ đen đang để ở lối vào của quán cà phê và chìa khóa cắm sẵn ở ổ khóa của xe. T dắt xe ra đến cửa quán cà phê để đi ra ngoài nhưng do không mở được cửa cuốn nên T bỏ lại chiếc xe này rồi đi đến chỗ tường gạch lúc trèo vào quán và trèo ra ngoài đường hẻm rồi tẩu thoát. Đến khoảng 7 giờ ngày 05/11/2022, T đi đến tiệm điện thoại Quý Mobile của ông Trần Xuân Đông, địa chỉ 151 Nguyễn Công Trứ, thành phố Đ L để bán chiếc điện thoại Iphone 13 Pro Max 512GB được số tiền là 14.200.000đ (mười bốn triệu hai trăm ngàn đồng), số tiền này T đã tiêu xài cá nhân hết. Đến khoảng 18 giờ cùng ngày, T lấy chiếc Laptop nhãn hiệu Dell Vostro 153510 mang đến cửa hàng Đ L Laptop của ông Nguyễn Đức Anh Tú, địa chỉ: 46 Tôn Thất Tùng, Phường 8, thành phố Đ L, tỉnh Lâm Đồng để cài lại chương trình với mục đích sau khi chạy lại chương trình thì T sẽ mang bán lấy tiền tiêu xài. Sau đó T bắt taxi đến huyện Đ để nhậu thì bị công an huyện Đ mời về làm việc.
Tại Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ, Nguyễn Tấn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Căn cứ Bản kết luận số 116/KL – HĐĐG ngày 09/11/2022 của của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện Đ xác định giá trị T sản tại thời điểm bị chiếm đoạt cụ thể như sau: 01 Laptop nhãn hiệu DELL, số loại Vostro 153510; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple, số loại Iphone 13, 128GB; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple, số loại Iphone 13 Pro Max 512GB; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, số loại J400; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, kiểu dáng Wave RSX BKS 49E1 – 252.76. Tổng giá trị T sản là 57.700.000đ (năm mươi bảy triệu bảy trăm ngàn đồng).
Ngày 27/12/2022, Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ có Công văn yêu cầu định giá T sản số 765/YC-ĐTTH về việc đề nghị Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện Đ tiến hành định giá những T sản sau: 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Vsmart, số loại Joy 3, màu xám; 01 xe mô tô nhãn hiệu WARM, số loại C110, màu nâu, BKS 49S1 – 4147; 01 Laptop nhãn hiệu Dell, không rõ số loại; 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Apple, số loại Iphone 6 Plus, màu xám; 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Apple, số loại Iphone XS Max 64GB, màu Golg là những T sản không thu hồi được.
Căn cứ Công văn số 30/HĐĐGTSTTHS ngày 27/3/2023 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện Đ kết luận: Không có cơ sở định giá đối với những T sản trên trong vụ trộm cắp xảy ra ngày 12/10/2022 tại quán Hoa Xoan 2, địa chỉ 298 Quốc lộ 20, thị trấn L N, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng theo yêu cầu của Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ do không thu hồi được T sản, không có hồ sơ liên quan đến thời điểm sử dụng, hóa đơn mua bán, chất lượng còn lại của T sản.
Như vậy, tổng giá trị T sản trong vụ án mà Nguyễn Tấn T đã chiếm đoạt là 59.600.000đ (năm mươi chín triệu sáu trăm ngàn đồng).
Vật chứng thu giữ: Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ đã thu giữ:
- Đối với những T sản mà Nguyễn Tấn T thực hiện hành vi trộm cắp tại nhà ông Nguyễn Quang Tr chủ quán cà phê Gió Núi địa chỉ tại số 17 Trần Hưng Đạo, thị trấn L N, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng bao gồm:
+ T sản của ông Nguyễn Quang Tr bao gồm: 01 Laptop nhãn hiệu DELL, số loại Vostro 153510; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple, số loại Iphone 13, 128GB; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, số loại J400. Đã thu giữ, sau khi định gái T sản đã trả lại cho ông Tr.
+ T sản của bà Đậu Thị L là 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, kiểu dáng Wave RSX BKS 49E1 – 252.76. Đã thu giữ, sau khi định giá T sản đã trả lại cho bà L.
+ Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple, số loại Iphone 13 Pro Max 512GB của ông Nguyễn Quang Tr, sau khi T lấy trộm được đã mang bán cho tiệm điện thoại Quý Mobile do ông Trần Xuân Đông làm chủ. Sau đó ông Đông đã bán chiếc điện thoại này cho người khác nên Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ không tiến hành thu hồi được.
+ Ngoài ra Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ còn thu giữ 01 ví da bên trong có 01 CCCD mang tên Nguyễn Quang Tr, 01 CMND mang tên Trịnh Kim Ngân, 04 thẻ ATM của ngân hàng Vietconbank, SHB, Sacombank mang tên Nguyễn Quang Tr. Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ đã xác định chủ T sản này là ông Nguyễn Quang Tr nên đã trả lại cho những T sản này cho ông Tr.
- Đối với những T sản mà Nguyễn Tấn T thực hiện hành vi trộm cắp tại quán Hoa Xoan 2 bao gồm:
+ T sản của ông Hà Huy Anh bao gồm: 01 Laptop nhãn hiệu Dell, không rõ số loại; 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Apple, số loại Iphone 6 Plus, màu xám.
+ T sản của ông Lưu Ngọc H là 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Vsmart, số loại Joy 3, màu xám.
+ T sản của ông Phạm Minh Th là 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Apple, số loại Iphone XS Max 64GB, màu Golg.
+ T sản của ông Phạm Hoàng Anh là 01 xe mô tô nhãn hiệu WARM, số loại C110, màu nâu, BKS 49S1 – 4147.
Hiện số vật chứng trên Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ không thu hồi được.
- Đối với T sản thu giữ trên người của Nguyễn Tấn T bao gồm: 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Samsung Galaxy A71 màu xanh nhạt, màn hình bị bể; 02 thẻ ATM ngân hàng Sacombank mang tên “NGUYEN T KIM CHAU” và “NGUYEN THI PHUONG”, 01 thẻ ATM ngân hàng Viettinbank mang tên “NHU VAN NGHIA”; 01 giấy bên nhận sửa chữa Latop của tiệm Đ L Latop; 01 giấy biên nhận cầm đồ của tiệm vàng cầm đồ Phú Cường địa chỉ: Chợ Cầu Khởi, Dương Minh Châu, Tây Ninh; 01 chìa khóa phòng khách sạn Th Lập – Đ L; 01 CCCD mang tên Như Văn Nghĩa. Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ đã tiến hành bàn giao cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ chờ xử lý.
- Đối với số tiền 185.000đ (một trăm tám mươi lăm ngàn đồng) thu giữ trên người của Nguyễn Tấn T, xác định là tiền do T có được từ việc phạm tội mà có. Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ đã tiến hành bàn giao cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ.
Về trách nhiệm dân sự:
+ Ông Nguyễn Quang Tr yêu cầu Nguyễn Tấn T phải bồi thường đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple, số loại Iphone 13 Pro Max 512GB, ông Tr yêu cầu T bồi thường số tiền là 22.000.000đ (hai mươi hai triệu đồng). Ngoài ra ông Tr còn yêu cầu T bồi thường số tiền 1.700.000đ (một triệu bảy trăm ngàn đồng) là tiền mặt của ông Tr mà T đã lấy trộm tại phòng ngủ của ông. Như vậy tổng số tiền mà ông Tr yêu cầu T phải bồi thường là 23.700.000đ (hai mươi ba triệu bảy trăm ngàn đồng).
+ Bà Đậu Thị L đã nhận lại T sản là chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, kiểu dáng Wave RSX BKS 49E1 – 252.76 và không yêu cầu gì thêm về mặt dân sự nên không đề cập đến.
+ Ông Hà Huy Anh yêu cầu Nguyễn Tấn T phải bồi thường đối với 01 Laptop nhãn hiệu Dell, không rõ số loại; 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Apple, số loại Iphone 6 Plus, màu xám với tổng số tiền là 9.000.000đ (chín triệu đồng).
+ Ông Lưu Ngọc H yêu cầu Nguyễn Tấn T phải bồi thường đối với 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Vsmart, số loại Joy 3, màu xám với số tiền là 4.000.000đ (bốn triệu đồng).
+ Ông Phạm Minh Th yêu cầu Nguyễn Tấn T phải bồi thường đối với 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Apple, số loại Iphone XS Max 64GB, màu Golg với số tiền là 9.000.000đ (chín triệu đồng).
+ Ông Phạm Hoàng Anh yêu cầu Nguyễn Tấn T phải bồi thường đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu WARM, số loại C110, màu nâu, BKS 49S1 – 4147 với số tiền là 3.000.000đ (ba triệu đồng).
Hiện bị cáo Nguyễn Tấn T chưa bồi thường cho các ông Nguyễn Quang Tr, ông Hà Huy Anh, ông Lưu Ngọc H, ông Phạm Minh Th và ông Phạm Hoàng Anh.
-Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Tấn T đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải.
- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội 02 lần trở lên.
Tại bản cáo trạng số 85/CT - VKS ngày 18 tháng 4 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Đ để xét xử bị cáo Nguyễn Tấn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c, g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ thực hành quyền công tố vẫn giữ nguyên Cáo trạng truy tố bị cáo Nguyễn Tấn T về tội “Trộm cắp tài sản”, đề nghị áp dụng điểm c, g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Tấn T từ 04 năm tù đến 05 năm tù.
Ý kiến của bị cáo: Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các T liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Xét về hoạt động điều tra, truy tố của điều tra viên, kiểm sát viên thì thấy rằng trong quá trình điều tra, truy tố, điều tra viên, kiểm sát viên đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, không ai có ý kiến thắc mắc hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng. Như vậy, các cơ quan tiến hành tố tụng, những người tiến hành tố tụng thực hiện đúng trình tự thủ tục theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Tấn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, cụ thể như sau: Bị cáo Nguyễn Tấn T không có công ăn việc làm ổn định nên đã nảy sinh ý định trộm cắp tài sản của người khác bán lấy tiền tiêu xài. Thực hiện ý định, Nguyễn Tấn T thường xuyên thay đổi chỗ ở để dễ tiếp cận tài sản của người dân và trốn thoát sau khi thực hiện hành vi trộm cắp, cụ thể bị cáo T đã 02 lần lén lút trộm cắp tài sản của người khác như sau:
Vụ thứ nhất: Vào ngày 10/10/2022, bị cáo Nguyễn Tấn T trộm chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Apple Iphone XS Max 64 GB màu vàng gold, một chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Vsmart số loại Joy 3 màu xám đen, 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Apple số loại 6 Plus 64GB màu xám và số tiền 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) cùng một chiếc máy vi tính Laptop, nhãn hiệu Dell số loại Studio 1557, màn hình 15.6 Inch và 01 chiếc xe mô tô màu tím nho, không có yếm, số loại xe C110, không có gương chiếu hậu 2 bên, không có biển kiểm soát đang để ở sân.
Vụ thứ hai: Vào ngày 04/11/2022, bi cáo T lấy trộm một chiếc điện thoại nhãn hiệu Apple, số loại Iphone 13, loại 128G, màu hồng, 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Apple số loại 13 Pro Max dung lượng 512GB màu xanh, 01 Laptop nhãn hiệu Dell, số loại Vostro 153510 màu xám, 01 xấp tiền, trong đó có nhiều loại tiền mệnh giá khác nhau được buộc dây thun với tổng số tiền là 1.700.000đ (một triệu bảy trăm ngàn đồng), 01 ví da màu đen, bên trong có một số CCCD, CMND và nhiều thẻ ngân hàng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, số loại J400 màu trắng và 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda kiểu dáng Wave RSX, BKS 49E1 – 252.76 màu đỏ đen.
Căn cứ Bản kết luận số 116/KL – HĐĐG ngày 09/11/2022 của của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện Đ xác định giá trị T sản tại thời điểm bị chiếm đoạt cụ thể như sau: 01 Laptop nhãn hiệu DELL, số loại Vostro 153510; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple, số loại Iphone 13, 128GB; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple, số loại Iphone 13 Pro Max 512GB; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, số loại J400; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, kiểu dáng Wave RSX BKS 49E1 – 252.76. Tổng giá trị T sản là 57.700.000đ (năm mươi bảy triệu bảy trăm ngàn đồng).
Căn cứ Công văn số 30/HĐĐGTSTTHS ngày 27/3/2023 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện Đ kết luận: Không có cơ sở định giá đối với những T sản trên trong vụ trộm cắp xảy ra ngày 12/10/2022 tại quán Hoa Xoan 2, địa chỉ 298 Quốc lộ 20, thị trấn L N, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng theo yêu cầu của Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ do không thu hồi được T sản, không có hồ sơ liên quan đến thời điểm sử dụng, hóa đơn mua bán, chất lượng còn lại của tài sản.
Như vậy tổng giá trị tài sản trong vụ án mà Nguyễn Tấn T đã chiếm đoạt là 59.600.000đ (năm mươi chín triệu sáu trăm ngàn đồng).
Xét thấy lời khai của bị cáo Nguyễn Tấn T tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, người làm chứng, Cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố và các chứng cứ T liệu có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Tấn T đang có tiền án, chưa được xóa án tích lại tiếp tục thực hiện 02 vụ trộm cắp tài sản với tổng số tiền bị cáo chiếm đoạt là 59.600.000đ (năm mươi chín triệu sáu trăm ngàn đồng) và hành vi phạm tội lần này của bị cáo Nguyễn Tấn T thuộc trường hợp “Tái phạm nguy hiểm” nên tội phạm và hình phạt đối với bị cáo được quy định tại điểm c, g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự 2015.
Xét tính chất mức độ và hành vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo biết rõ tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật thừa nhận và bảo vệ, nhưng do lười lao động, muốn có tiền tiêu xài bị cáo đã bất chấp pháp luật thực hiện hành vi phạm tội, hành vi của bị cáo làm ảnh hưởng đến trật tự, trị an, an toàn xã hội, gây hoang mang, lo lắng trong quần chúng nhân dân.
Xem xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Tấn T là người đang có tiền án, chưa được xóa án tích, bị cáo phạm tội lần này thuộc trường hợp “Tái phạm nguy hiểm” đây là tình tiết định khung hình phạt đối với bị cáo theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự nên không xem xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” đối với bị cáo. Tuy nhiên bị cáo 02 lần thực hiện trộm cắp T sản nên bị cáo cần áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho bị cáo khi lượng hình.
Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, truy tố các bị hại yêu cầu bị cáo phải bồi thường như sau:
+ Ông Nguyễn Quang Tr yêu cầu Nguyễn Tấn T phải bồi thường đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple, số loại Iphone 13 Pro Max 512GB, ông Tr yêu cầu T bồi thường số tiền là 22.000.000đ (hai mươi hai triệu đồng). Ngoài ra ông Tr còn yêu cầu T bồi thường số tiền 1.700.000đ (một triệu bảy trăm ngàn đồng) là tiền mặt của ông Tr mà T đã lấy trộm tại phòng ngủ của ông. Như vậy tổng số tiền mà ông Tr yêu cầu T phải bồi thường là 23.700.000đ (hai mươi ba triệu bảy trăm ngàn đồng).
+ Bà Đậu Thị L đã nhận lại T sản là chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, kiểu dáng Wave RSX BKS 49E1 – 252.76 và không yêu cầu gì thêm về mặt dân sự nên không đề cập đến.
+ Ông Hà Huy Anh yêu cầu Nguyễn Tấn T phải bồi thường đối với 01 Laptop nhãn hiệu Dell, không rõ số loại; 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Apple, số loại Iphone 6 Plus, màu xám với tổng số tiền là 9.000.000đ (chín triệu đồng).
+ Ông Lưu Ngọc H yêu cầu Nguyễn Tấn T phải bồi thường đối với 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Vsmart, số loại Joy 3, màu xám với số tiền là 4.000.000đ (bốn triệu đồng).
+ Ông Phạm Minh Th yêu cầu Nguyễn Tấn T phải bồi thường đối với 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Apple, số loại Iphone XS Max 64GB, màu Golg với số tiền là 9.000.000đ (chín triệu đồng).
+ Ông Phạm Hoàng Anh yêu cầu Nguyễn Tấn T phải bồi thường đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu WARM, số loại C110, màu nâu, BKS 49S1 – 4147 với số tiền là 3.000.000đ (ba triệu đồng).
Tại phiên tòa bị cáo đồng ý bồi thường theo yêu cầu của những người bị hại do đó Hội đồng xét xử cần ghi nhận sự tự nguyện này của bị cáo.
Vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 46; Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Giao Chi cục thi hành án dân sự huyện Đ tiếp tục tạm giữ: 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Samsung Galaxy A71 màu xanh nhạt, màn hình bị bể thu giữ của bị cáo để đảm bảo công tác thi hành án.
Tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền 185.000đ (một trăm tám mươi lăm ngàn đồng).
Hoàn trả cho bị cáo 02 thẻ ATM ngân hàng Sacombank mang tên “NGUYEN T KIM CHAU” và “NGUYEN THI PHUONG”, 01 thẻ ATM ngân hàng Viettinbank mang tên “NHU VAN NGHIA”; 01 giấy biên nhận cầm đồ của tiệm vàng cầm đồ Phú Cường địa chỉ: Chợ Cầu Khởi, Dương Minh Châu, Tây Ninh; 01 chìa khóa phòng khách sạn Th Lập – Đ L; 01 CCCD mang tên Như Văn Nghĩa.
Tịch thu lưu hồ sơ vụ án 01 giấy bên nhận sửa chữa Latop của tiệm Đ L Latop.
Từ những phân tích nhận định trên, xét thấy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để bị cáo nhận thức hành vi phạm tội của mình và mang tính răn đe, giáo dục phòng ngừa chung, đồng thời thể hiện sự nghiêm minh của pháp luật.
Ngoài ra, tại Bản án số 118/2022/HS-ST ngày 23/9/2022 của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An xử phạt 03 năm tù về tội “Trộm cắp T sản”, bị cáo chưa chấp hành hình phạt do bị cáo bỏ trốn và bị truy nã. Do đó cần áp dụng Điều 56 Bộ luật hình sự để tổng hợp hình phạt đối với bị cáo là đúng pháp luật.
Đối với ông Trần Xuân Đông quá trình điều tra xác định sau khi Nguyễn Tấn T mang 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple, số loại Iphone 13 Pro Max 512GB đến cửa hàng Quý Mobile đến bán cho ông Đông với số tiền 14.200.000đ (mười bốn triệu hai trăm ngàn đồng). Ông Đông không biết chiếc điện thoại này do T trộm cắp mà có, đồng thời ông Đông đã bán lại chiếc điện thoại này cho người khác do đó Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ không tiến hành thu hồi được. Vì vậy không có căn cứ để xử lý đối với hành vi của ông Trần Xuân Đông.
Đối với hành vi của ông Nguyễn Đức Anh Tú, quá trình điều tra xác định khi Nguyễn Tấn T mang chiếc Latop nhãn hiệu Dell, số loại Vostro 153510 đến cửa hàng Đ L Latop để xóa dữ liệu thì ông Tú không biết không biết chiếc Latop trên là do T trộm cắp mà có. Sau khi làm việc với Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ, ông Tú đã tự nguyện giao nộp chiếc Latop trên để phục vụ qúa trình điều tra. Vì vậy không có căn cứ để xử lý đối với ông Nguyễn Đức Anh Tú.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tấn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ vào điểm c, g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Tấn T 04 (bốn) năm tù.
- Áp dụng Điều 56 Bộ luật hình sự: Tổng hợp hình phạt với Bản án số 118/2022/HS-ST ngày 23/9/2022 của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An xử phạt bị cáo Nguyễn Tấn T 03 năm tù về tội “Trộm cắp T sản”. Buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 07 (bảy) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 06/11/2022. Được trừ thời gian tạm giam từ ngày 21/4/2021 đến ngày 01/9/2021 vào thời gian chấp hành án.
2. Vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 46; Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Giao Chi cục thi hành án dân sự huyện Đ tiếp tục tạm giữ: 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Samsung Galaxy A71 màu xanh nhạt, màn hình bị bể thu giữ của bị cáo để đảm bảo công tác thi hành án.
Tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền 185.000đ (một trăm tám mươi lăm ngàn đồng).
Hoàn trả cho bị cáo 02 thẻ ATM ngân hàng Sacombank mang tên “NGUYEN T KIM CHAU” và “NGUYEN THI PHUONG”, 01 thẻ ATM ngân hàng Viettinbank mang tên “NHU VAN NGHIA”; 01 giấy biên nhận cầm đồ của tiệm vàng cầm đồ Phú Cường địa chỉ: Chợ Cầu Khởi, Dương Minh Châu, Tây Ninh; 01 chìa khóa phòng khách sạn Th Lập – Đà Lật; 01 CCCD mang tên Như Văn Nghĩa.
Tịch thu lưu hồ sơ vụ án 01 giấy bên nhận sửa chữa Latop của tiệm Đ L Latop.
Theo biên bản giao nhận vật chứng tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đ và Giấy nộp tiền vào T khoản số 3949.0.1096549.00000 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đ.
3. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự năm 2015, Điều 584, 585, 587, 589 của Bộ luật dân sự 2015, Nghị quyết 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08/7/2006 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao quy định về bồi thường thiệt hại do T sản bị xâm phạm. Buộc bị cáo Nguyễn Tấn T phải có nghĩa vụ bồi thường cho: Ông Nguyễn Quang Tr số tiền 23.700.000đ (hai mươi ba triệu bảy trăm ngàn đồng). Ông Hà Huy Anh số tiền là 9.000.000đ (chín triệu đồng). Ông Lưu Ngọc H số tiền là 4.000.000đ (bốn triệu đồng). Ông Phạm Minh Th số tiền là 9.000.000đ (chín triệu đồng). Ông Phạm Hoàng Anh số tiền là 3.000.000đ (ba triệu đồng).
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, bên phải thi hành án còn phải trả số tiền lãi tương ứng với thời gian và số tiền chậm trả theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật dân sự.
4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Tấn T phải nộp 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 2.435.000đ (hai triệu bốn trăm ba mươi lăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
5. Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm. Những người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc niêm yết bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.
6. Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Tòa án tỉnh Lâm Đồng; - VKSND huyện Đ; - Công an huyện Đ; - Sở tư pháp; - Chi cục THADS huyện Đ; - Bị cáo; - Những người tham gia tố tụng; - Bộ phận THA phạt tù; - Lưu HS,AV. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Trần Thanh Long |