- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Ph - Đào Văn Ch"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Ph.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THÀNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 90/2023/HNGĐ-ST Ngày: 31-7-2023 V/việc: " Tranh chấp hôn nhân và gia đình " |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THÀNH - TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà :
Ông Trần Hoài Nam.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Hà.
Ông Nguyễn Hữu Tường.
- Thư ký phiên toà: Ông Phan Thanh Hà - Thư ký Toà án nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Ông Luyện Văn Thông - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Yên Thành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 293/2023/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 6 năm 2023 về Tranh chấp hôn nhân và gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 175/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 7 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Ph. Sinh năm: 1982.
Trú tại: Xóm LN, xã ĐT, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An.
Có mặt.
- Bị đơn: Anh Đào Văn Ch. Sinh năm: 1982.
Trú tại: Xóm LN, xã ĐT, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An.
Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Ph trình bày: Chị và anh Đào Văn Ch kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có làm thủ tục đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật tại UBND xã ĐT, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An vào ngày 30 tháng 6 năm 2003. Sau khi kết hôn thì hai người chung sống với nhau hạnh phúc nhưng đến đầu năm 2023 thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh Ch ghen tuông vô cớ và thường xuyên có hành vi chửi bới, đánh đập chị Ph. Và hiện nay thì hai người sống ly thân, giữa hai người không còn quan tâm, chăm sóc gì lẫn nhau nữa. Do tình trạng hôn nhân ngày càng trầm trọng, quan hệ vợ chồng không còn tình cảm và không còn hạnh phúc. Vì vậy, chị Nguyễn Thị Ph làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh Đào Văn Ch.
Về quan hệ con cái: Chị Nguyễn Thị Ph và anh Đào Văn Ch có ba con chung là cháu Đào Văn T, sinh ngày 28 tháng 12 năm 2003, cháu Đào Cẩm T1, sinh ngày 22 tháng 4 năm 2009 và cháu Đào Văn T2, sinh ngày 19 tháng 11 năm 2011. Hiện nay cháu T đã trưởng thành và tự nuôi sống bản thân, không cần sự chăm sóc của bố mẹ. Nếu ly hôn thì chị Ph nhận nuôi dưỡng cả hai con chung và không yêu cầu anh Ch phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung. Ngoài ra, hai người không nhận nuôi con nuôi và không ai có con riêng. Tuy nhiên, tại phiên hòa giải và phiên tòa hôm nay thì chị Ph thay đổi một phần nội dung khởi kiện, đó là, xin nhận nuôi dưỡng cháu T1 và để cho anh Ch nuôi dưỡng cháu T2, không bên nảo phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản: Chị Nguyễn Thị Ph không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, anh Đào Văn Ch trình bày: Sau khi kết hôn thì anh Ch - chị Ph chung sống hạnh phúc, cuộc sống gia đình và tình cảm vẫn đang bình thường, mâu thuẫn chưa thực sự nghiêm trọng đến mức phải ly hôn. Anh Ch mong muốn vợ chồng đoàn tụ để xây dựng hạnh phúc gia đình và nuôi dạy con cái. Tuy nhiên, nếu Tòa án giải quyết vợ chồng phải ly hôn thì anh Ch xin nhận nuôi dưỡng con chung là cháu Đào Văn T2, để cho chị Ph nuôi dưỡng cháu Đào Cẩm T1 và các bên không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung. Anh Ch không yêu cầu Tòa án giải quyết về quan hệ tài sản.
Quá trình giải quyết vụ án, các con chung của chị Ph và anh Ch - Cháu Đào Cẩm T1 và cháu Đào Văn T2 đều trình bày: Nếu bố mẹ ly hôn thì cháu có nguyện vọng được ở với mẹ.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng và đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương sự đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 51, 56, 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Cho chị Ph được ly hôn với anh Ch, giao cho chị Ph nuôi dưỡng cháu Đào Cẩm T1, giao cho anh Ch nuôi dưỡng cháu Đào Văn T2 và tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho các bên. Áp dụng điều 147 BLTTDS, buộc chị Ph phải chịu án phí DSST.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thủ tục tố tụng:
Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Tranh chấp giữa chị Nguyễn Thị Ph và anh Đào Văn Ch là “Ly hôn”. Vì vậy, vụ án này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Yên Thành theo quy định tại khoản 1 điều 28 và điểm a khoản 1 điều 35 BLTTDS.
Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, chị Nguyễn Thị Ph thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện về việc nuôi dưỡng con chung. Căn cứ khoản 2 Điều 71 BLTTDS, chấp nhận sự thay đổi yêu cầu về nuôi dưỡng con chung của chị Nguyễn Thị Ph.
Về nội dung:
Quan hệ tình cảm: Hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị Ph và anh Đào Văn Ch được xác lập trên cơ sở tự nguyện, bình đẳng và có đăng ký kết hôn phù hợp với quy định của pháp luật. Quá trình chung sống thì giữa hai người đã xảy ra mâu thuẫn và nay đã sống ly thân. Hai người đã không còn quan tâm hay còn tình cảm với nhau nữa, vì vậy chị Ph nhất quyết ly hôn. Thấy rằng, hôn nhân của chị Ph - anh Ch không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, tình trạng hôn nhân không thể kéo dài. Do đó, nên chấp nhận yêu cầu của chị Ph, cho chị Nguyễn Thị Ph được ly hôn với anh Đào Văn Ch, điều này là phù hợp với thực tế cuộc sống và cũng là phù hợp với quy định tại điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
Quan hệ con cái: Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, chị Ph có nguyện vọng được nuôi dưỡng con chung là cháu Đào Cẩm T1 và để cho anh Ch nuôi dưỡng cháu Đào Văn T2. Bản thân anh Ch đồng ý với yêu cầu này của chị Ph. Mặc dù bản thân cháu T2 có nguyện vọng nếu bố mẹ ly hôn thì ở với mẹ. Tuy nhiên, chị Ph và anh Ch có 02 người con chung chưa thành niên, cháu T1 là con gái nên cần giao cho chị Ph nuôi dưỡng và cháu T2 cần giao cho anh Ch nuôi dưỡng. Điều này là phù hợp với thực tế cuộc sống và để đảm bảo điều kiện kinh tế cũng như sự chăm sóc và điều kiện nuôi dưỡng. Vì vậy, cần chấp nhận yêu cầu của chị Ph, giao con chung là cháu Đào Cẩm T1 cho chị Ph chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục và giao con chung là cháu Đào Văn T2 cho anh Ch chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho các bên.
Quan hệ tài sản: Chị Nguyễn Thị Ph và anh Đào Văn Ch không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy, nên miễn xét.
Về án phí: Cần buộc chị Nguyễn Thị Ph phải chịu án phí DSST theo quy định.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm b khoản 2 Điều 227; các khoản 1, 3 Điều 228 và Điều 147 BLTTDS;
- Căn cứ vào các Điều 51, 56, 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình;
- Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14;
1. Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Ph. Cho chị Nguyễn Thị Ph được ly hôn với anh Đào Văn Ch.
2. Về con cái:
- Giao con chung là cháu Đào Cẩm T1, sinh ngày 22 tháng 4 năm 2009 cho chị Nguyễn Thị Ph chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi trưởng thành.
- Giao con chung là cháu Đào Văn T2, sinh ngày 19 tháng 11 năm 2011 cho anh Đào Văn Ch chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi trưởng thành.
- Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho các bên.
- Các bên có quyền đi lại, thăm nom và giáo dục con chung không ai được cản trở.
- Vì lợi ích của con chung, các bên có quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn và cấp dưỡng theo quy định của pháp luật.
3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Ph phải chịu 300.000đ án phí DSST nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị Ph đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0000932 ngày 21/6/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Thành. Chị Nguyễn Thị Ph đã nộp đủ án phí DSST.
4. Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị Ph và anh Đào Văn Ch có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong thời hạn 15 ngày kể từ tuyên án.
T/M.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Nghệ An; - VKSND huyện Yên Thành; - Chi cục THADS huyện Yên Thành; - UBND xã ĐT; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Trần Hoài Nam |