vanban.org

Bản án 90/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Trương Thị Tuyết N được ly hôn với anh Phan Văn T.

Về quan hệ con chung: Giao cho anh Phan Văn T tiếp tục nuôi người con tên Phan Thị Trúc Q - sinh ngày 25/4/2022. Anh Phan Văn T không yêu cầu chị Trương Thị Tuyết N cấp dưỡng nuôi con. Anh Phan Văn T cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở chị Trương Thị Tuyết N tới lui, thăm nom, chăm… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Trương Thị Tuyết N yêu cầu được ly hôn với anh Phan Văn T."
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Trương Thị Tuyết N được ly hôn với anh Phan Văn T.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN T

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH KIÊN GIANG
Bản án số: 90/2023/HNGĐ-ST
Ngày 29/12/2023
Về việc“Tranh chấp ly hôn, nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T , TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Chiến

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Kim Khoe

2. Bà Phạm Thị Lệ Hoa

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Chi - Thư ký Tòa án nhân dân huyện T , tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T , tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Ông Trần Công Đỉnh - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện T , tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 262/2023/TLST- HNGĐ ngày 03 tháng 11 năm 2023 về việc: “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 110/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 12 năm 2023 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Trương Thị Tuyết N - sinh năm 2003 (có mặt)

Địa chỉ: ấp Kinh 5B, xã T , huyện T , tỉnh Kiên Giang.

Chỗ ở: ấp T , xã T , huyện V , thành phố Cần Thơ.

2. Bị đơn: Anh Phan Văn T - sinh năm 1996 (có đơn xin xét xử vắng mặt)

Địa chỉ: số 330, tổ 12, ấp Kinh 5B, xã T , huyện T , tỉnh Kiên Giang

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và tại phiên tòa nguyên đơn chị Trương Thị Tuyết N trình bày:

Chị Trương Thị Tuyết N và anh Phan Văn T được gia đình mai mối sau đó tìm hiểu quen biết nhau khoảng 02 tháng rồi chung sống với nhau vào năm 2021, đăng ký kết hôn trễ hạn tại UBND xã T , huyện T , tỉnh Kiên Giang ngày 25/3/2022.

Lý do xin ly hôn: Quá trình chung sống thời gian đầu vợ chồng hạnh phúc, đến giữa năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn chị N cho rằng, khi có thai chị không đi làm được thì anh T nói chị N không có đồng bạc nào, thai yếu hay phải đi thăm khám thì anh T và mẹ chồng nói chị N ăn hết của mà không chịu đẻ, thường chửi chị bằng những lời lẽ thiếu tôn trọng và còn kiếm chuyện đuổi chị N ra khỏi nhà, áp lực từ gia đình chồng nên chị N có dấu hiệu trầm cảm thường hay nghĩ đến cái chết nên tháng 01/2023 thì chị N về nhà cha mẹ ruột ở huyện V, anh T còn thường hay hăm dọa giết chị N, dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng ngày càng gay gắt. Nay chị N xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, chung sống với nhau không hạnh phúc. Vợ chồng đã ly thân từ tháng 01/2023 cho đến nay.

- Về con chung: quá trình chung sống vợ chồng có 1 con chung: Phan Thị Trúc Q - sinh ngày 25/4/2022. Cháu Q hiện đang sống với anh T.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.

Tại phiên tòa chị N yêu cầu:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị N yêu cầu được ly hôn với anh T.

- Về con chung: Chị N đồng ý giao con cho anh T nuôi dưỡng, chị N không cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ chung: Chị N xác nhận không có, không yêu cầu giải quyết.

* Theo bản tự khai ngày 06/12/2023 bị đơn anh Phan Văn T trình bày:

Anh Phan Văn T và chị Trương Thị Tuyết N chung sống với nhau vào năm tháng 5/2021, đăng ký kết hôn trễ hạn tại UBND xã T , huyện T , tỉnh Kiên Giang ngày 25/3/2022.

Quá trình vợ chồng chung sống đến tháng 01/2023 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn theo anh T là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, kinh tế khó khăn nên chị N đã bỏ đi từ tháng 01/2023 cho đến nay. Chị N làm đơn yêu cầu ly hôn, anh T đồng ý ly hôn với chị Nhi.

- Về con chung: quá trình chung sống vợ chồng có 1 con chung: Phan Thị Trúc Q - sinh ngày 25/4/2022. Cháu Q hiện đang sống với anh T. Anh T yêu cầu nuôi con, không yêu cầu chị N cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.

Phát biểu của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:

* Việc tuân theo pháp luật tố tụng:

- Thẩm phán đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử quy định tại Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng nhiệm vụ quyền hạn của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

- Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật. Bị đơn vắng mặt mặc dù đã được Tòa án cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng hợp lệ.

* Ý kiến về việc giải quyết vụ án:

- Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Trương Thị Tuyết N .

- Về quan hệ con chung: Đề nghị giao cháu Phan Thị Trúc Q, sinh ngày 25/4/2022 cho anh Phan Văn T trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng, là phù hợp với quy định pháp luật.

- Về tài sản chung và nợ chung: chị N và anh T xác nhận không có, không yêu cầu giải quyết, nên miễn xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã giao quyết định đưa vụ án ra xét xử, Giấy báo phiên tòa hợp lệ, anh Phan Văn T vắng mặt tại phiên tòa, nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử thống nhất xử vắng mặt anh Phan Văn T.

Xét thấy, Tòa án đã tống đạt đầy đủ và hợp lệ các thủ tục theo quy định Bộ luật tố tụng dân sự cho anh T như: Thông báo thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa, nhưng anh T vẫn không đến Tòa án.

Về quan hệ hôn nhân: Xét mối quan hệ hôn nhân giữa chị N và anh T chung sống với nhau được UBND xã T , huyện T , tỉnh Kiên Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn số: 23, ngày 25/03/2022, nên đây là hôn nhân hợp pháp.

Xét yêu cầu xin được ly hôn của chị N là có cơ sở chấp nhận. Bởi vì, vợ chồng anh chị chung sống với nhau đến giữa năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn. Chị N cho rằng do khi có thai chị không đi làm được thì anh T nói chị N không có đồng bạc nào, thai yếu hay phải đi thăm khám thì anh T và mẹ chồng nói chị N ăn hết của mà không chịu đẻ, thường chửi chị bằng những lời lẽ thiếu tôn trọng và còn kiếm chuyện đuổi chị N ra khỏi nhà, áp lực từ gia đình chồng nên chị N có dấu hiệu trầm cảm thường hay nghĩ đến cái chết nên tháng 01/2023 thì chị N về nhà cha mẹ ruột ở huyện V, thành phố Cần Thơ sinh sống, anh T còn thường hay hăm dọa giết chị N, từ đó dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng ngày càng gay gắt.

Tại phiên tòa, chị N thể hiện rõ quan điểm muốn ly hôn, không muốn đoàn tụ. Mặt khác, chị N và anh T hai bên đã ly thân với nhau từ tháng 01/2023 cho đến nay. Hội đồng xét xử xét thấy tình trạng hôn nhân giữa chị N và anh T đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, trong phần nghị án Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị N được ly hôn với anh T.

Về quan hệ con chung: Chị N và anh T chung sống có 01 người con tên Phan Thị Trúc Q - sinh ngày 25/4/2022.

Xét thấy, cháu Trúc Q hiện đang sống với anh T, được anh T nuôi dưỡng, đảm bảo sự phát triển về mọi mặt, Hội đồng xét xử thống nhất giao cho anh T tiếp tục nuôi con là phù hợp, anh T có khả năng nuôi con nên không yêu cầu chị N cấp dưỡng nuôi con, nên Hội đồng xét xử miễn xét.

Về tài sản, nữ trang chung, nợ chung: chị N và anh T xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử miễn xét.

Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Buộc chị N phải nộp án phí theo quy định pháp luật.

Báo cho các đương sự biết có quyền kháng cáo trong hạn luật định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

- Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 228; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

- Áp dụng các Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình;

- Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Trương Thị Tuyết N được ly hôn với anh Phan Văn T.

2. Về quan hệ con chung: Giao cho anh Phan Văn T tiếp tục nuôi người con tên Phan Thị Trúc Q - sinh ngày 25/4/2022. Anh Phan Văn T không yêu cầu chị Trương Thị Tuyết N cấp dưỡng nuôi con.

Anh Phan Văn T cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở chị Trương Thị Tuyết N tới lui, thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục con chung.

3. Về quan hệ tài sản, nữ trang chung, nợ chung: Chị N và anh T xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Buộc chị Trương Thị Tuyết N phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0000534 ngày 30/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện T, tỉnh Kiên Giang.

5. Quyền kháng cáo: Các đương sự biết có quyền kháng cáo trong hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với anh Phan Văn T vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tống đạt hợp lệ./.

Cỡ chữ