vanban.org

Bản án 90/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Huỳnh Thị Kim P về việc yêu cầu ly hôn đối với bị đơn ông Lý Văn Đ.

Về hôn nhân: bà Huỳnh Thị Kim P được ly hôn với ông Lý Văn Đ. Về nuôi con chung: bà Huỳnh Thị Kim P tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung tên Lý Huỳnh Khánh L, sinh ngày 15/6/2008 và Lý Huỳnh Đăng K, sinh ngày 09/12/2011. Ông Lý Văn Đ không phải cấp dưỡng nuôi con. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn và nuôi con chung"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Huỳnh Thị Kim P về việc yêu cầu ly hôn đối với bị đơn ông Lý Văn Đ.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN C
TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 90/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 24-8-2023
V/v ly hôn giữa bà P và ông Đ

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C, TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thủy Tiên.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Phạm Ngọc Mai.

2. Bà Nguyễn Thị Bích Phượng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Lệ Trinh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện C.

Ngày 24 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện C xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 371/2023/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 7 năm 2023 về Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 96/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 8 năm 2023 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị Kim P, sinh năm: 1980;

Địa chỉ: Ấp D, xã L, huyện C, tỉnh Long An.

2. Bị đơn: Ông Lý Văn Đ, sinh năm: 1976;

Địa chỉ: Ấp D, xã L, huyện C, tỉnh Long An.

(Bà P và ông Đ đều có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện đề ngày 12/7/2023, nguyên đơn bà Huỳnh Thị Kim P trình bày:

Về hôn nhân: bà P và ông Đ tổ chức lễ cưới vào năm 2007, có thực hiện việc đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện C, tỉnh Long An và được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 36, quyển số 01, ngày 10/6/2007. Nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng là do chồng không có trách nhiệm với gia đình và vợ con, thích tự do, coi trọng bạn bè, rượu chè, cờ bạc, không chăm lo con cái, chỉ biết sống cho bản thân. Vợ chồng đã ly thân từ ngày 01/01/2020 cho đến nay. Nay xét thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà Huỳnh Thị Kim P yêu cầu ly hôn với ông Lý Văn Đ.

Về nuôi con chung: vợ chồng có 02 con chung tên Lý Huỳnh Khánh L, sinh ngày 15/6/2008 và Lý Huỳnh Đăng K, sinh ngày 09/12/2011. Đối với con chung tên Lý Huỳnh Khánh L, hiện nay đã đủ 07 tuổi tuy nhiên cháu L được Hội đồng giám định y khoa huyện B chẩn đoán bại não, tỷ lệ mất sức lao động là 85% và được Ủy ban nhân dân huyện C trợ cấp hàng tháng theo Quyết định về việc trợ cấp xã hội số 2294/QĐ-UBND ngày 11/5/2012 nên cháu L không thể hiện được nguyện vọng của mình nhưng hiện nay bà P là người chăm sóc cháu L. Đối với con chung tên Lý Huỳnh Đăng K cũng đang sống chung với bà P và có nguyện vọng được sống chung với bà P. Do đó, khi ly hôn, bà P yêu cầu được nuôi cả 02 con và không yêu cầu ông Đ cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: không có.

- Theo bản tự khai ngày 31/7/2023, bị đơn ông Lý Văn Đ trình bày:

Về hôn nhân: Ông Đ đồng ý ly hôn với bà Huỳnh Thị Kim P.

Về nuôi con chung: vợ chồng có 02 con chung tên Lý Huỳnh Khánh L, sinh ngày 15/6/2008 và Lý Huỳnh Đăng K, sinh ngày 09/12/2011. Sau khi ly hôn, 02 con sẽ sống cùng với mẹ và ông không cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: không có.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định.

Về thủ tục tố tụng:

Bà Huỳnh Thị Kim P khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Lý Văn Đ, ông Đ có nơi cư trú tại xã L, huyện C, tỉnh Long An nên Tòa án nhân dân huyện C thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Nguyên đơn bà Huỳnh Thị Kim P và bị đơn ông Lý Văn Đ có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà P và ông Đ theo quy định khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung tranh chấp:

Về hôn nhân: bà Huỳnh Thị Kim P và ông Lý Văn Đ tổ chức lễ cưới vào năm 2007, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã L, huyện C, tỉnh Long An cấp giấy chứng nhận kết hôn số 36, quyển số 01, ngày 10/6/2007 nên xác định hôn nhân giữa bà P và ông Đ là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ. Bà P trình bày nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng là do ông Đ không có trách nhiệm với gia đình và vợ con, thích tự do, coi trọng bạn bè, rượu chè, cờ bạc, không chăm lo con cái, chỉ biết sống cho bản thân. Vợ chồng đã ly thân từ ngày 01/01/2020 cho đến nay. Bà P yêu cầu ly hôn với ông Đ. Ông Đ cũng đồng ý ly hôn với bà P nên căn cứ vào Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà P đối với ông Đ.

Về nuôi con chung: bà P và ông Đ chung sống có 02 con chung tên Lý Huỳnh Khánh L, sinh ngày 15/6/2008 và Lý Huỳnh Đăng K, sinh ngày 09/12/2011. Bà P yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng 02 con chung. Ông Đ trình bày sau ly hôn, 02 con sẽ sống cùng mẹ. Hội đồng xét xử xét thấy, cả bà P và ông Đ đều có chung ý kiến về việc người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn và phù hợp với quy định tại Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà P, giao 02 con chung cho bà P tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng. Cấp dưỡng nuôi con là nghĩa vụ của người không trực tiếp nuôi con nhưng bà P không có yêu cầu ông Đ cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà P và ông Đ đều trình bày không có tài sản chung và không có nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Bà P phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm và án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 9, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 và Điều 85 của Luật hôn nhân và gia đình; Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Huỳnh Thị Kim P về việc yêu cầu ly hôn đối với bị đơn ông Lý Văn Đ.

1. Về hôn nhân: bà Huỳnh Thị Kim P được ly hôn với ông Lý Văn Đ.

2. Về nuôi con chung: bà Huỳnh Thị Kim P tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung tên Lý Huỳnh Khánh L, sinh ngày 15/6/2008 và Lý Huỳnh Đăng K, sinh ngày 09/12/2011. Ông Lý Văn Đ không phải cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn, cha mẹ có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên.

Người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.

3. Về án phí: bà Huỳnh Thị Kim P phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí bà P đã nộp theo biên lai thu số 0005759 ngày 20 tháng 7 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện C.

4. Về quyền kháng cáo bản án sơ thẩm: đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ