vanban.org

Bản án 90/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Dương Thị U và anh Phạm Văn V.

Về con chung: Cháu Phạm Thị Ch, sinh ngày 28/2/1991; Phạm Thị N, sinh ngày 01/01/1993 hiện nay đã trưởng thành, nên không xem xét giải quyết; Giao cháu Phạm Thị G, sinh ngày 22/3/2008 cho chị U tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến tuổi trưởng thành (Theo nguyện vọng của cháu G). Ghi nhận sự tự nguy… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Dương Thị U và anh Phạm Văn V.
  • Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN AN BIÊN
TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 90/2023/HNGĐ-ST
Ngày 22 - 8 - 2023.
V/v “tranh chấp ly hôn, nuôi con”.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN BIÊN, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Thị Gấm

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hà Minh Hằng và ông Phạm Đức Hoài

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Việt –Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Biên tham gia phiên tòa: Ông Trang Minh Tú – Kiểm sát viên.

Trong các ngày 22 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 267/2022/TLST-HNGD, ngày 09 tháng 11 năm 2022 về tranh chấp “Ly hôn, nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 172/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 8 năm 2023 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Dương Thị U, sinh năm 1972;

Địa chỉ: Ấp B, xã N T, huyện A B, tỉnh Kiên Giang.

2. Bị đơn: Anh Phạm Văn V, sinh năm 1973;

Địa chỉ: Ấp B, xã N T, huyện A B, tỉnh Kiên Giang.

(Chị U có mặt tại phiên tòa, anh V vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và những ý kiến tại Tòa án chị Dương Thị U trình bày như sau:

Chị U và anh V sống chung với nhau từ năm 1991, hôn nhân tự nguyện, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán của địa phương, nhưng không có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Vợ chồng chung sống đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuân là do vợ chồng thường xuyên cự cãi, bất đồng về quan điểm sống, dẫn đến đời sống vợ chồng không hạnh phúc, vợ chồng đã hàn gắn nhiều lần nhưng không được, mục đích hôn nhân không đạt được, chị và anh V đã ly thân từ năm 2021 đến nay.

Về quan hệ hôn nhân: Chị U yêu cầu được chấm dứt quan hệ hôn nhân với anh V.

Về con chung: Có 03 người con chung tên Phạm Thị Ch, sinh ngày 28/2/1991; Phạm Thị N, sinh ngày 01/01/1993 và Phạm Thị G, sinh ngày 22/3/2008; Cháu Ch và cháu Nước hiện nay đã trưởng thành, chị U yêu cầu được nuôi cháu G và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngoài ra anh V không trình bày và yêu cầu gì thêm.

Bị đơn anh Phạm Văn V có ý kiến như sau:

Anh V thống nhất với lời trình bày của chị U về thời gian chung sống, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán của địa phương và không có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật, theo yêu cầu của chị U thì anh V đồng ý chấm dứt quan hệ hôn nhân.

Về con chung: Có 03 con chung tên Phạm Thị Ch, sinh ngày 28/2/1991; Phạm Thị N, sinh ngày 01/01/1993 và Phạm Thị G, sinh ngày 22/3/2008; Cháu Ch và Nước hiện nay đã trưởng thành, đồng ý giao cháu G cho chị U tiếp tục nuôi dưỡng anh không cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ: Không có, không yêu cầu tòa án giải quyết.

Ngoài ra anh V không trình bày và yêu cầu gì thêm.

Qua yêu cầu khởi kiện và ý kiến của các đƣơng sự đã thống nhất với nhau các vấn đề sau:

Về quan hệ hôn nhân: Chị U và anh V thống nhất chấm dứt quan hệ vợ chồng.

Về con chung: Chị U và anh V xác nhận có 03 con chung tên Phạm Thị Ch, sinh ngày 28/2/1991; Phạm Thị N, sinh ngày 01/01/1993 và Phạm Thị G, sinh ngày 22/3/2008; Cháu Ch và Nước hiện nay đã trưởng thành. Chị U và anh V thống nhất tự nguyện thỏa thuận giao cháu Phạm Thị G (Theo nguyện vọng cháu G) cho chị U tiếp tục nuôi dưỡng và chăm sóc cho đến tuổi trưởng thành. Anh V không phải cấp dưỡng nuôi con, do chị U không có yêu cầu.

Về tài sản chung và nợ: Không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa hôm nay: Chị U và anh V vẫn giữ nguyên yêu cầu, ý kiến như đã trình bày trên.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa phát biểu:

Về thủ tục tố tụng: Từ khi thụ lý cho đến khi đưa vụ án ra xét xử và tại phiên tòa hôm nay, Thẩm phán, HĐXX, Thư ký, các bên đương sự đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, Thẩm phán còn vi phạm về thời hạn xét xử.

Về nội dung: Xét thấy yêu cầu tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng của chị U và anh V là có căn cứ chấp nhận theo khoản 1 Điều 14, Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình. Về con chung: Cháu Phạm Thị Ch, sinh ngày 28/2/1991; Phạm Thị N, sinh ngày 01/01/1993 hiện nay đã trưởng thành; Giao cháu Phạm Thị G, sinh ngày 22/3/2008 cho chị U tiếp tục nuôi dưỡng, ghi nhận sự tự nguyện của chị U không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ: Không có không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị U xin ly hôn với anh V, các đương sự có nơi cư trú trên địa bàn huyện An Biên. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang.

Về thủ tục tố tụng: Sau khi vụ án được thụ lý, Tòa án đã giao các văn bản tố tụng cho các đương sự, tiến hành lập biên bản công khai chứng cứ và hòa giải, do các đương sự không có đăng ký kết hôn nên Tòa án tiến hành đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung.

Về quan hệ hôn nhân: Chị U và anh V chung sống với nhau từ năm 1991, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán của địa phương nhưng anh chị không thực hiện việc đăng ký kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình, do đó hôn nhân của anh chị không có giá trị pháp lý và không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng, trong quá trình giải quyết vụ án thì chị U và anh V đều thống nhất chấm dứt quan hệ vợ chồng. Căn cứ vào Điều 14 và Điều 53 của Luật hôn nhân gia đình năm 2014, qua thảo luận và nghị án Hội đồng xét xử thống nhất tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Dương Thị U và anh Phạm Văn V.

Về con chung: Chị U và anh V xác nhận có 03 con chung tên Phạm Thị Ch, sinh ngày 28/2/1991; Phạm Thị N, sinh ngày 01/01/1993 và Phạm Thị G, sinh ngày 22/3/2008; Cháu Ch và cháu Nước hiện nay đã trưởng thành. Chị U và anh V thống nhất tự nguyện thỏa thuận giao cháu Phạm Thị G (Theo nguyện vọng cháu G) cho chị U tiếp tục nuôi dưỡng và chăm sóc cho đến tuổi trưởng thành. Anh V không phải cấp dưỡng nuôi con, do chị U không có yêu cầu.

Về tài sản chung: Chị U và anh V thống nhất tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đề cập xem xét.

Về nợ chung và người khác nợ vợ chồng: Chị U và anh V thống nhất xác định không có, không yêu cầu tòa án giải quyết.

Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Chị U phải nộp toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm.

Về ý kiến của đại diện Viện kiểm sát: Xét thấy ý kiến của đại diện Viện kiểm sát là có cơ sở chấp nhận theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 14 và Điều 53, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; các Điều 144, Điều 147, Điều 227, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Dương Thị U và anh Phạm Văn V.

2. Về con chung: Cháu Phạm Thị Ch, sinh ngày 28/2/1991; Phạm Thị N, sinh ngày 01/01/1993 hiện nay đã trưởng thành, nên không xem xét giải quyết; Giao cháu Phạm Thị G, sinh ngày 22/3/2008 cho chị U tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến tuổi trưởng thành (Theo nguyện vọng của cháu G). Ghi nhận sự tự nguyện của chị U không yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con.

Anh V không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được quyền ngăn cản, tuy nhiên anh V không được lạm dụng quyền thăm nom con. Vì lợi ích của con, khi cần thiết anh, chị có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung: Chị U và anh V thống nhất tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đề cập xem xét.

Về nợ chung và người khác nợ vợ chồng: Chị U và anh V thống nhất xác định không có, không yêu cầu tòa án giải quyết.

4. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Chị U có nghĩa vụ nộp tiền án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đ theo biên lai thu số 0003695 ngày 09 tháng 11 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang. Vậy chị U đã nộp xong án phí.

5. Quyền kháng cáo: Án xử công khai, chị U có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 22/8/2023, anh V vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt.

Trường hợp Bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành bản án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ