vanban.org

Bản án 90/2023/HC-ST — Hành chính

TAND tỉnh Bình Thuận Tuyên án 14/09/2023 Hành chính Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hành chính — "Khiếu kiện QĐHC trong lĩnh vực quản lý đất đai"
  • Căn cứ chính? Điều 157 Luật tố tụng hành chính; Điều 158 Luật tố tụng hành chính
TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!
TỈNH!BÌNH!THUẬN!

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 90/2023/HC-ST
Ngày: 14-9-2023
V/v:" Khiếu" kiện" quyết" định" hành"
chính" trong" lĩnh" vực" quản" lý"đất"
đai."

NHÂN!DANH!

NƯỚC!CỘNG!HÒA!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!

TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!TỈNH!BÌNH!THUẬN!

-!Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm"phán"-"Chủ"tọa"phiên"tòa:"Ông Trần Phước Hiệu;

Các"Hội"thẩm"nhân"dân:"Ông Trương Vĩnh Kỳ; ông Đào Văn Sáng

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Huyền Anh là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Dương - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số 111/2023/TLST-HC ngày 18 tháng 7 năm 2023, về việc:“"Khiếu"kiện"quyết"định"hành"chính"trong"lĩnh"vực" quản"lý"đất"đai”"theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 122/2023/QĐXXST-HC ngày 29 tháng 8 năm 2023, giữa các đương sự:

- Người khởi kiện:

1. Ông Phùng Duy T, sinh năm 1983; Địa chỉ: N, phường T, thị xã S, thành phố Hà Nội.

2. Bà Trịnh Thị Thu H, sinh năm 1982; Địa chỉ: G ngõ A đường K, phường K, quận T, thành phố Hà Nội.

3. Bà Bùi Thị Thanh L, sinh năm 1982; Địa chỉ: Số I Ngách C Phố V, phường Đ, quận H, thành phố Hà Nội.

Người"đại"diện"theo"ủy"quyền"của"ông"Phùng"Duy"T,"bà"Trịnh"Thị"Thu"H," bà"Bùi"Thị"Thanh"L: Ông Kim Ngọc D, sinh năm 1998; Địa chỉ: Thôn T, xã T, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

- Người bị kiện: Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B; Địa chỉ: Khu Dân cư B, phường X, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

Người" bảo" vệ" quyền" và" lợi" ích" hợp" pháp" của" người" bị" kiện: Ông Phan Thành L1 – Phó giám đốc phụ trách Chi nhánh Văn phòng Đ.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố Đ; Địa chỉ: C T, phường B, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

Người"đại"diện: Ông Phan Thành L1 – Phó giám đốc phụ trách Chi nhánh Văn phòng Đ.

2. Ủy ban nhân dân thành phố P; Địa chỉ: D T, phường Đ, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

3. Bà Vũ Thị Hồng T1, sinh năm 1985; Địa chỉ: N, phường T, thị xã S, thành phố Hà Nội.

4. Ông Đỗ Ngọc C, sinh năm 1981; Địa chỉ: G ngõ A đường K, phường K, quận T, thành phố Hà Nội.

5. Ông Nguyễn Việt C1, sinh năm 1982; Địa chỉ: Số I Ngách C Phố V, phường Đ, quận H, thành phố Hà Nội.

Người"đại"diện"theo"ủy"quyền"của"ông"Đỗ"Ngọc"C,"bà"Vũ"Thị"Hồng"T1,"ông" Nguyễn" Việt" C1: Ông Kim Ngọc D, sinh năm 1998; Địa chỉ: Thôn T, xã T, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

Tại phiên tòa có mặt ông Kim Ngọc D; các đương sự khác vắng mặt.

NỘI!DUNG!VỤ!ÁN:!

Theo"đơn"khởi"kiện"đề"ngày"26/6/2023,"quá"trình"giải"quyết"vụ"án"và"tại" phiên"tòa,"người"khởi"kiện"là ông"Phùng"Duy"T,"bà"Trịnh"Thị"Thu"H,"bà"Bùi"Thị" Thanh"L"và"người"đại"diện"theo"ủy"quyền"ông"Kim"Ngọc"D"trình"bày:""

Ngày 30/8/2022, bà Ngô Thị H1 đã ký hợp đồng chuyển nhượng cho ông T, bà H và bà L thửa đất số 267, tờ bản đồ số 58, diện tích 1102,8 m2 đất ở tại đô thị và đất trồng cây hàng năm khác tại khu phố E, phường M, thành phố P theo giấy chứng nhận số CP 594366 do UBND thành phố P cấp ngày 05/12/2018. Việc chuyển nhượng được xác lập theo hợp đồng chuyển nhượng số 000443, quyển số 01/2022TP/CC-SCC/HĐ,GD do Văn phòng C2 công chứng ngày 30/8/2022. Ngày 05/9/2023, ông T, bà H và bà L nộp hồ sơ đăng ký biến động quyền sử dụng đất. Đến ngày 21/9/2022, Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố Đ ban hành Thông báo số 1451/TB-CNVPĐKĐĐPT với nội dung hoàn trả hồ sơ nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông T, bà H, bà L. Nhận thấy việc từ chối giải quyết hồ sơ đăng ký biến động quyền sử dụng đất của ông T, bà H, bà L là không đúng quy định của pháp luật, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của họ nên ông T, bà H, bà L khởi kiện ra Tòa án yêu cầu giải quyết: Hủy Thông báo số 1451/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 21/09/2022 của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố Đ; Buộc Chi nhánh Văn phòng Đ thực hiện việc chỉnh lý sang tên đối với thửa đất số 267, tờ bản đồ số 58 theo Giấy chứng nhận số CP 594366 do UBND thành phố P cấp ngày 05/12/2018 theo hợp đồng chuyển nhượng mà các bên đã xác lập.

Người"bị"kiện"-"Văn"phòng"đăng"ký"đất"đai"tỉnh"B"có"ý"kiến"tại"văn"bản"số" 1988/VPĐKĐĐ-ĐKCG"ngày"22/8/2023"như"sau:"

Ngày 05/9/2022, Chi nhánh Văn phòng Đ có tiếp nhận hồ sơ chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ bà Ngô Thị H1 sang ông Phùng Duy T, bà Trịnh Thị Thu H, bà Bùi Thị Thanh L, đối với khu đất đã được cấp Giấy chứng nhận số CP 594366. Qua thẩm tra hồ sơ, xét thấy phần diện tích 150 m2 đất ở tại đô thị có nguồn gốc chuyển mục đích sử dụng không phù hợp quy hoạch theo Bản đồ quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 tại Quyết định số 3200/QĐ-UBND ngày 13/12/2012 của UBND tỉnh B đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt. Đối với nội dung vướng mắc nêu trên, UBND thành phố P đã có Báo cáo số 275/BC – UBND ngày 04/8/2020 báo cáo UBND tỉnh B về tình hình thực hiện và khắc phục các sai phạm trong công tác quản lý Nhà nước về đất đai, trật tự xây dựng; đến nay vẫn chưa có ý kiến chỉ đạo thực hiện. Do đó, Chi nhánh Văn phòng Đ đã ban hành Thông báo số 1451/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 21/09/2022 về việc hoàn trả hồ sơ nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông Phùng Duy T, bà Trịnh Thị Thu H, bà Bùi Thị Thanh L; lý do: Việc chuyển mục đích không phù hợp với quy hoạch sử dụng đất.

Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh B xét thấy việc Chi nhánh Văn phòng Đ ban hành văn bản số 1451/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 21/9/2022 gửi ông Phùng Duy T, bà Trịnh Thị Thu H, bà Bùi Thị Thanh L được biết việc sai sót trong quá trình giải quyết hồ sơ chuyển mục đích trước đây và tạm dừng giải quyết hồ sơ chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông Phùng Duy T, bà Trịnh Thị Thu H, bà Bùi Thị Thanh L là có cơ sở. Sau khi UBND thành phố P xử lý xong việc sai sót nêu trên thì Chi nhánh Văn phòng Đ sẽ thông báo đến ông Phùng Duy T, bà Trịnh Thị Thu H, bà Bùi Thị Thanh L nộp lại hồ sơ và giải quyết theo quy định.

Người"có"quyền"lợi,"nghĩa"vụ"liên"quan"là"Chi"nhánh"Văn"phòng"đăng"ký" đất" đai" thành" phố" Đ" có" ý" kiến" tại" văn" bản" số" 7820/CNVPĐKĐĐP" ngày" 24/8/2023"như"sau:

Ngày 05/9/2022, Chi nhánh Văn phòng Đ có tiếp nhận hồ sơ nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ ông Phùng Duy T, bà Trịnh Thị Thu H và bà Bùi Thị Thanh L tại biên nhận số 2022-18780/TNHS, đối với thửa đất số 267, tờ bản đồ số 58, diện tích 1102.8 m2 gồm 150.0 m2 đất ở đô thị và 952.8 m2 đất trồng cây hàng năm khác theo Giấy chứng nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CP 594366 do Ủy ban nhân dân thành phố P cấp ngày 05/12/2018.

Tuy nhiên, qua rà soát hồ sơ thì phần diện tích 150.0 m2 đất ở đô thị của thửa đất số 267, tờ bản đồ số 58 theo Giấy chứng nhận số CP 594366 có nguồn gốc chuyển mục đích sử dụng đất từ đất trồng cây hàng năm khác sang đất ở tại đô thị nhưng không phù hợp quy hoạch theo Bản đồ quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 theo Quyết định số 3200/QĐ-UBND ngày 13/12/2013 của UBND tỉnh B. Do đó, Chi nhánh Văn phòng Đ thực hiện theo nội dung chỉ đạo tại Thông báo số 387/TB-UBND ngày 02/7/2020 của UBND thành phố P, Chi nhánh Văn phòng Đ đã có công văn số 4046/CNVPĐKĐĐPT ngày 20/7/2020 về việc xin ý kiến Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh B liên quan đến đất được chuyển mục đích trước đây chưa đảm bảo theo quy định.

Ngày 03/9/2020, Chi nhánh Văn phòng Đ nhận được văn bản phúc đáp của Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh B số 1981/VPĐKĐĐ-ĐKCG ngày 31/8/2020 có ý kiến như sau: “Liên quan đến nội dung vướng mắc của Chi nhánh Văn phòng Đ, UBND thành phố P đã có báo cáo số 275/BC-UBND ngày 04/8/2020 báo cáo UBND tỉnh B về tình hình thực hiện và khắc phục các sai phạm trong công tác quản lý nhà nước về đất đai, trật tự xây dựng theo Kết luận Thanh tra số 1696KL-UBND ngày 16/5/2019 của Chủ tịch UBND tỉnh B. Sau khi UBND tỉnh B có ý kiến chỉ đạo liên quan đến các nội dung vướng mắc theo đề xuất của UBND thành phố P thì thực hiện theo chỉ đạo của UBND tỉnh B”. Đồng thời ngày 22/3/2023, Chi nhánh Văn phòng Đ có công văn số 2120/ CNVPĐKĐĐPT gửi đến Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh B và UBND thành phố P về việc báo cáo xin ý kiến chỉ đạo liên quan đến chuyển mục đích sai quy hoạch sử dụng đất theo Quyết định số 3200/QĐ-UBND ngày 13/12/2013 của UBND tỉnh B (nằm ngoài danh sách 132 trường hợp).

Như vậy, căn cứ Công văn số 1981/VPĐKĐĐ-ĐKCG ngày 31/8/2020 của Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh B thì hiện nay vẫn chưa có ý kiến chỉ đạo giải quyết các trường hợp hồ sơ chuyển quyền nhưng thửa đất đã chuyển mục đích chưa đảm bảo theo quy định. Do đó, ngày 21/9/2022, Chi nhánh Văn phòng Đ đã ban hành Thông báo số 1451/TB- CNVPĐKĐĐPT về việc hoàn trả hồ sơ nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông Phùng Duy T, bà Trịnh Thị Thu H và bà Bùi Thị Thanh L; lý do: Việc chuyển mục đích không phù hợp với quy hoạch sử dụng đất.

Người"có"quyền"lợi"và"nghĩa"vụ"liên"quan"là"Ủy"ban"nhân"dân"thành"phố" P"không"có"văn"bản"trình"bày"ý"kiến"và"có"đơn"xin"xét"xử"vắng"mặt.""

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:

Về"thủ"tục"tố"tụng: Quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân và Thư ký đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Luật tố tụng hành chính.

Tòa án xác định đúng đối tượng khởi kiện và tư cách tham gia tố tụng của các đương sự; việc khởi kiện của người khởi kiện là còn thời hiệu; TAND tỉnh Bình Thuận giải quyết là đúng thẩm quyền.

Về" nội" dung: Xét thấy Thông báo số 1451/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 21/09/2022 của Chi nhánh Văn phòng Đ về việc hoàn trả hồ sơ nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông Phùng Duy T, bà Trịnh Thị Thu H, bà Bùi Thị Thanh L đối với tài sản là quyền sử dụng đất do nhận chuyển nhượng hợp pháp từ người khác là không phù hợp và không có căn cứ pháp luật; Việc ban hành văn bản nêu trên đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khởi kiện. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện, T2:

Hủy Thông báo số 1451/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 21/09/2022 của Chi nhánh Văn phòng Đ;

Buộc Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B và Chi nhánh văn phòng Đ thực hiện nhiệm vụ, công vụ về giải quyết hồ sơ nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông Phùng Duy T, bà Trịnh Thị Thu H, bà Bùi Thị Thanh L đối với thửa đất số 267, tờ bản đồ số 58, diện tích 1102,8 m2 đất ở tại đô thị và đất trồng cây hàng năm khác tại khu phố E, phường M, thành phố P, tỉnh Bình Thuận theo quy định pháp luật.

NHẬN!ĐỊNH!CỦA!TÒA!ÁN:!

Căn"cứ"vào"các"tài"liệu,"chứng"cứ"có"trong"hồ"sơ"vụ"án"đã"được"xem"xét" tại"phiên"tòa,"kết"quả"tranh"tụng"tại"phiên"tòa"và"ý"kiến"của"đại"diện"Viện"kiểm" sát,"Hội"đồng"xét"xử"nhận"định"như"sau:"

[1] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa vắng mặt Ủy ban nhân dân thành phố P, vắng mặt Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B, vắng mặt Chi nhánh văn phòng Đ"nhưng đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Do đó căn cứ Điều 157 và Điều 158 Luật tố tụng hành chính, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự này là đúng quy định.

[2] Về đối tượng khởi kiện, thẩm quyền giải quyết: Người khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết: Tuyên hủy Thông báo số 1451/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 21/09/2022 của Chi nhánh Văn phòng Đ về việc hoàn trả hồ sơ nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông Phùng Duy T, bà Trịnh Thị Thu H, bà Bùi Thị Thanh L đối với thửa đất số 267, tờ bản đồ số 58, diện tích 1102,8 m2 đất ở tại đô thị và đất trồng cây hàng năm khác tại khu phố E, phường M, thành phố P; Xét thấy Thông báo số 1451/TB-CNVPĐKĐĐPT của Chi nhánh Văn phòng Đ có nội dung dừng giải quyết và trả hồ sơ nhận chuyển nhượng đất của ông T, bà H và bà L, làm ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của các đương sự nên được xác định là quyết định hành chính bị kiện. Như vậy đối tượng khởi kiện là quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai theo quy định tại khoản 2 Điều 3 Luật tố tụng hành chính. Theo quy định tại khoản 3 Điều 32 Luật tố tụng hành chính thì khiếu kiện trên thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND tỉnh Bình Thuận.

[3] Về thời hiệu khởi kiện: Ngày 21/09/2022, Chi nhánh Văn phòng Đ ban hành Thông báo số 1451/TB-CNVPĐKĐĐPT. Ngày 04/7/2023, ông T, bà H và bà L khởi kiện đối với thông báo trên là còn thời hiệu theo quy định tại Điều 116 Luật tố tụng hành chính.

[4] Xét yêu cầu khởi kiện của ông T, bà H và bà L. Hội đồng xét xử thấy rằng:

Bà Ngô Thị H1 được Ủy ban nhân dân thành phố P cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CP 594366 ngày 05/12/2018 đối với thửa đất số 267, tờ bản đồ số 58, diện tích 1102,8 m2, trong đó đất ở tại đô thị 150 m2 và đất trồng cây lâu năm 952,8 m2.

Ngày 30/8/2022, vợ chồng bà H1 đã ký hợp đồng chuyển nhượng thửa đất nêu trên cho ông T, bà H và bà L. Việc chuyển nhượng được các bên thực hiện đảm bảo tuân thủ đúng quy định của pháp luật. Sau khi ký hợp đồng chuyển nhượng, ông T, bà H và bà L đã kê khai đầy đủ các thủ tục theo quy định của pháp luật về đất đai và nộp hồ sơ tại Chi nhánh văn phòng Đ để thực hiện thủ tục đăng ký cập nhật biến động thửa đất nêu trên. Ngày 21/09/2022, Chi nhánh Văn phòng Đ ban hành Thông báo số 1451/TB-CNVPĐKĐĐPT về việc thông báo hoàn trả hồ sơ nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông T, bà H và bà L, trong đó có nội dung tạm ngưng việc giải quyết hồ sơ nhận chuyển nhượng QSDĐ nêu trên với lý do 150 m2 đất ở đô thị được chuyển mục đích không phù hợp bản đồ quy hoạch đất, phải chờ ý kiến chỉ đạo của Ủy ban nhân dân thành phố P.

Xét thấy trong quá trình thực hiện thủ tục hành chính về cấp mới, cấp đổi và chuyển quyền sử dụng đất thì ngày 20/7/2020, Chi nhánh Văn phòng Đ đã ban hành Văn bản số 4046/CNVPĐKĐĐPT báo cáo về sai sót trong việc cho chuyển mục đích đất ở trên địa bàn thành phố P không phù hợp với quy hoạch sử dụng đất tại quyết định số 3200/QĐ-UBND ngày 13/12/2013 của UBND tỉnh B, kèm theo bản đồ quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 nhưng đến nay UBND thành phố P vẫn không có ý kiến về việc xử lý các sai sót trong việc cho chuyển mục đích đất ở mà Chi nhánh Văn phòng Đ đã kiến nghị.

Theo quy định tại Điều 106 Luật đất đai năm 2013, quy định về đính chính, thu hồi giấy chứng nhận đã cấp như sau:

1." Cơ" quan" có" thẩm" quyền" cấp" giấy" chứng" nhận" có" trách" nhiệm" đính" chính"giấy"chứng"nhận"đã"cấp"có"sai"sót"trong"các"trường"hợp"sau"đây:"

a)"Có"sai"sót"thông"tin"về"tên"gọi,"giấy"tờ"pháp"nhân"hoặc"nhân"thân,"địa" chỉ"của"người"sử"dụng"đất,"chủ"sở"hữu"tài"sản"gắn"liền"với"đất"so"với"giấy"tờ" pháp"nhân"hoặc"nhân"thân"tại"thời"điểm"cấp"Giấy"chứng"nhận"của"người"đó;"

b)"Có"sai"sót"thông"tin"về"thửa"đất,"tài"sản"gắn"liền"với"đất"so"với"hồ"sơ"kê" khai"đăng"ký"đất"đai,"tài"sản"gắn"liền"với"đất"đã"được"cơ"quan"đăng"ký"đất"đai" kiểm"tra"xác"nhận."

2."Nhà"nước"thu"hồi"giấy"chứng"nhận"đã"cấp"trong"các"trường"hợp"sau" đây:"

a)"Nhà"nước"thu"hồi"toàn"bộ"diện"tích"đất"trên"Giấy"chứng"nhận"đã"cấp;"

b)"Cấp"đổi"Giấy"chứng"nhận"đã"cấp;"

c)"Người"sử"dụng"đất,"chủ"sở"hữu"tài"sản"gắn"liền"với"đất"đăng"ký"biến" động"đất"đai,"tài"sản"gắn"liền"với"đất"mà"phải"cấp"mới"giấy"CNQSD"đất,"quyền" sở"hữu"nhà"ở"và"tài"sản"khác"gắn"liền"với"đất;"

d)" Giấy" chứng" nhận" đã" cấp" không" đúng" thẩm" quyền," không" đúng" đối" tượng" sử" dụng" đất," không" đúng" diện" tích" đất," không" đủ" điều" kiện" được" cấp," không"đúng"mục"đích"sử"dụng"đất"hoặc"thời"hạn"sử"dụng"đất"hoặc"nguồn"gốc"sử" dụng"đất"theo"quy"định"của"pháp"luật"đất"đai,"trừ"trường"hợp"người"được"cấp" giấy"chứng"nhận"đó"đã"thực"hiện"chuyển"quyền"sử"dụng"đất,"quyền"sở"hữu"tài" sản"gắn"liền"với"đất"theo"quy"định"của"pháp"luật"đất"đai.

- Khoản 1 Điều 167 và khoản 1 Điều 168 Luật đất đai, quy định: Người" sử"dụng"đất"được"thực"hiện"các"quyền" chuyển"đổi," chuyển"nhượng,"cho" thuê," cho"thuê"lại,"thừa"kế,"tặng"cho,"thế"chấp,"góp"vốn"quyền"sử"dụng"đất,"…"khi"có" giấy"chứng"nhận…;"Trường"hợp"người"sử"dụng"đất"được"chậm"thực"hiện"nghĩa" vụ"tài"chính"hoặc"được"ghi"nợ"nghĩa"vụ"tài"chính"thì"phải"thực"hiện"xong"nghĩa" vụ"tài"chính"trước"khi"thực"hiện"các"quyền.

- Khoản 1 Điều 188 Luật đất đai, quy định người sử dụng đất được thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất; góp vốn bằng quyền sử dụng đất khi có các điều kiện sau đây:

a)"Có"giấy"chứng"nhận,"trừ"trường"hợp"quy"định"tại"khoản"3"Điều"186"và" trường"hợp"nhận"thừa"kế"quy"định"tại"khoản"1"Điều"168"của"Luật"này;"

b)"Đất"không"có"tranh"chấp;"

c)"Quyền"sử"dụng"đất"không"bị"kê"biên"để"bảo"đảm"thi"hành"án;"

d)"Trong"thời"hạn"sử"dụng"đất."

- Khoản 56 Điều 2 Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày 06/01/2017 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung điểm b và điểm c khoản 4 Điều 87 Nghị định số 43/2014 như sau:

b)"Trường"hợp" cơ"quan" nhà"nước" có"thẩm" quyền"cấp"giấy"chứng" nhận" quyền"sử"dụng"đất,"quyền"sở"hữu"nhà"ở"và"tài"sản"khác"gắn"liền"với"đất"phát" hiện"giấy"chứng"nhận"đã"cấp"không"đúng"quy"định"của"pháp"luật"về"đất"đai"thì" kiểm"tra"lại,"thông"báo"cho"người"sử"dụng"đất"biết"rõ"lý"do"và"quyết"định"thu"hồi" giấy"chứng"nhận"đã"cấp"không"đúng"quy"định;"

c)" Trường" hợp" người" sử" dụng" đất" phát" hiện" giấy" chứng" nhận" đã" cấp" không"đúng"quy"định"của"pháp"luật"về"đất"đai"thì"gửi"kiến"nghị"bằng"văn"bản" đến"cơ"quan"nhà"nước"có"thẩm"quyền"cấp"giấy"CNQSD"đất,"quyền"sở"hữu"nhà"ở" và" tài" sản" khác" gắn"liền" với"đất." Cơ" quan" nhà" nước" có" thẩm" quyền" cấp" giấy" CNQSD" đất," quyền" sở" hữu" nhà" ở" và" tài" sản" khác" gắn" liền" với"đất"có" trách" nhiệm"kiểm"tra,"xem"xét"quyết"định"thu"hồi"giấy"chứng"nhận"đã"cấp"không"đúng" quy"định"của"pháp"luật"về"đất"đai.

Căn cứ vào các quy định pháp luật viện dẫn nêu trên, thấy rằng: ông T, bà H và bà L thực hiện quyền nhận chuyển nhượng thửa đất số 267/1102,8 m2 đất nêu trên là đúng quy định tại khoản 1 Điều 167, khoản 1 Điều 168, điểm b khoản 1 Điều 169, khoản 1 Điều 188 Luật đất đai năm 2013. Hơn nữa, việc nhận chuyển nhượng thửa đất nêu trên không làm thay đổi hiện trạng, diện tích, mục đích sử dụng đất. Do đó, việc Chi nhánh Văn phòng Đ là cơ quan trực thuộc Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B không thực hiện thủ tục hành chính giải quyết hồ sơ nhận chuyển nhượng thửa đất số 267/1102,8 m2 của ông T, bà H và bà L là trái quy định pháp luật. Đồng thời, ban hành Thông báo số 1451/TB-CNVPĐKĐĐPT về việc thông báo hoàn trả hồ sơ nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông T, bà H và bà L là không có căn cứ pháp luật và đã ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của những người nhận chuyển nhượng đối với thửa đất nêu trên nên cần tuyên hủy là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.

Từ nhận định trên, xét thấy yêu cầu khởi kiện của ông T, bà H và bà L là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí: Do yêu cầu của người khởi kiện được chấp nhận nên người bị kiện phải chịu án phí hành chính sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 32 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì"các"lẽ"trên,"

QUYẾT!ĐỊNH:!

Căn!cứ:!

Khoản 1 Điều 30, khoản 3 Điều 32, điểm b khoản 2 Điều 193 Luật Tố tụng hành chính;

Khoản 7 Điều 22, điểm c khoản 1 Điều 99, Điều 106, khoản 1 Điều 167, khoản 1 Điều 168, khoản 1 Điều 188 Luật đất đai; Điều 79 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ;

Khoản 2 Điều 32 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

Tuyên!xử:!

1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện ông Phùng Duy T, bà Trịnh Thị Thu H và bà Bùi Thị Thanh L:

- Hủy Thông báo số 1451/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 21/09/2022 của Chi nhánh Văn phòng Đ.

- Buộc Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B và Chi nhánh Văn phòng Đ thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật.

2/ Về án phí hành chính sơ thẩm:

Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B phải chịu 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hành chính sơ thẩm.

Hoàn trả lại cho ông Phùng Duy T, bà Trịnh Thị Thu H và bà Bùi Thị Thanh L 900.000đồng (Chín trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0020024 ngày 14/7/2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bình Thuận.

3/ Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Luật Tố tụng hành chính./.

Cỡ chữ