vanban.org

Bản án 90/2023/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Hà Thị Kim L.

Buộc bà Vũ Thị T có nghĩa vụ trả cho bà Hà Thị Kim L 626kg cà phê nhân xô. Về lãi suất: Nguyên đơn không yêu cầu tính lãi suất nên HĐXX không đặt ra xem xét giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Hà Thị Kim L.
  • Căn cứ chính? Điều 117 Bộ luật Dân sự; Điều 119 Bộ luật Dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN EA H’LEO
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 90/2023/DS-ST
Ngày 28-9-2023
V/v: “Kiện tranh chấp HĐ vay
tài sản”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EA H’LEO, TỈNH ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Ngụy Thế Xuân

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Bùi Hoàng Sơn.

2. Ông Hoàng Tuyển.

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Năng Quân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện EaH’leo, tỉnh Đắk Lắk.

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Ea H’leo, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Ông Trịnh Văn Hai - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 9 năm 2023, tại Phòng xử án - Tòa án nhân dân huyện EaH’leo xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 240/2023/TLST-DS, ngày 27/6/2023 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 133/2023/QĐXXST-DS ngày 24/8/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 107/2023/QĐST-DS ngày 11/9/2023 giữa:

- Nguyên đơn: Bà Hà Thị Kim L, sinh năm 1972. Địa chỉ: Tổ dân phố X, thị trấn A, huyện E, tỉnh Đắk Lắk. (Có mặt)

- Bị đơn: Bà Vũ Thị T, sinh năm 1975. Địa chỉ: Thôn X, xã Y, huyện E, tỉnh Đắk Lắk. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Hà Thị Kim L trình bày:

Vào ngày 22/12/2016 bà Vũ Thị T có làm giấy vay của tôi số lượng cà phê nhân xô quy chuẩn là 626 kg (Sáu trăm hai mươi sáu kilogam) và hẹn đến ngày 22/01/2017 sẽ trả đủ số nợ gốc cho tôi. Tuy nhiên từ khi vay cho đến nay đã quá thời hạn trả nợ nhưng bà T không thực hiện trả nợ và có hành vi trốn tránh trách nhiệm trả nợ cho tôi mặc dù tôi có nhiều lần đến nhà yêu cầu bà T trả nợ. Vậy tôi đề nghị Tòa án giải quyết buộc bà T phải có trách nhiệm trả lại cho tôi 626kg cà phê nhân xô quy chuẩn, tính theo tỷ giá hiện tại quy ra tiền là 626kg x 65.000đ/kg = 40.690.000 đồng ( Bốn mươi triệu sáu trăm chín mươi nghìn đồng chẵn). Ngoài ra tôi không có ý kiến hay yêu cầu gì thêm.

* Trong quá trình tham gia tố tụng, bị đơn bà Vũ Thị T đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên Tòa án không tiến hành ghi nhận ý kiến được.

* Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea H’leo:

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Đây là tranh chấp hợp đồng vay tài sản, nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

Về người tham gia tố tụng: Tòa án đã xác định đúng tư cách người tham gia tố tụng.

Việc thu thập chứng cứ, lấy lời khai của đương sự, việc cấp tống đạt các giấy tờ cho Viện kiểm sát và những người tham gia tố tụng đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét xử chấp hành đầy đủ và đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự, các đương sự được thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 279, Điều 463 Bộ luật Dân sự.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn. Buộc bà Vũ Thị T phải trả cho bà Hà Thị Kim L 626kg cà phê nhân xô.

Về lãi suất: Bà L không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.

Về án phí: Buộc bà Vũ Thị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, lời trình bày của các đương sự đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả hỏi và tranh luận, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về quan hệ pháp luật: Đây là vụ án “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”. Việc Tòa án thụ lý và giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

. Về thủ tục tố tụng: Bị đơn bà Vũ Thị T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Vì vậy, căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với bị đơn, HĐXX xét thấy:

Quá trình giải quyết vụ án bị đơn bà Vũ Thị T vắng mặt không có lý do, nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của bị đơn về việc số cà phê nhân xô còn nợ của bà L . Theo đơn yêu cầu thu thập chứng cứ và đơn đề nghị trưng cầu giám định chữ viết, chữ ký của nguyên đơn. Tòa án nhân dân huyện Ea H’Leo đã ra quyết định trưng cầu giám định số 19/2023/QĐ-TCGĐ ngày 23/8/2023 yêu cầu giám định chữ ký, chữ viết của bà Vũ Thị T trong giấy nhận nợ cà phê ngày 22/12/2016.

Căn cứ kết luận giám định số 1044/KL-KTHS ngày 11/9/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Đắk Lắk, kết luận chữ ký, chữ viết mang tên Vũ Thị T trong giấy xác nhận nợ ngày 22/12/2016 (ký kiệu A1) so với chữ ký, chữ viết mang tên Vũ Thị T tại Bản tự khai ngày 01/10/2019; Biên bản hòa giải thành ngày 01/10/2019; Biên bản hòa giải ngày 01/10/2019; Biên bản về việc kiểm tra giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ ngày 01/10/2019, đã được lưu tại hồ sơ vụ án dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Ea H’Leo (kí hiệu M1, M1, M3, M4) xác định do bà Vũ Thị T cùng ký và viết ra.

Như vậy, đã có đủ cở sở xác định: Ngày 22/12/2016, bà Vũ Thị T có viết giấy xác nhận nợ 626 kg cà phê nhân xô của bà Hà Thị Kim L.

Xét việc vay tài sản giữa nguyên đơn và bị đơn hoàn toàn tự nguyện, không trái đạo đức xã hội, nên đây là giao dịch hợp pháp, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên. Đến hạn trả nợ nhưng bị đơn chưa trả được số kilôgam cà phê nhân xô nào cho nguyên đơn làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn. Do đó, nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải trả 626 kg cà phê nhân xô là có căn cứ, cần chấp nhận.

. Về lãi suất: Nguyên đơn không yêu cầu tính lãi suất nên HĐXX không đặt ra xem xét giải quyết.

. Về chi phí giám định: Bà Vũ Thị T phải chịu toàn bộ chi phí trưng cầu giám định số tiền là 5.100.000 đồng. Do bà L đã nộp tạm ứng chi phí giám định 5.100.000 đồng, nên cần buộc bà T phải hoàn trả cho bà L số tiền 5.100.000 đồng chi phí trưng cầu giám định.

. Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận, nên cần buộc bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật, cụ thể: 626kg x 66.300 đồng x 5% = 2.075.000 đồng

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 91, điểm b khoản 1 Điều 92, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 271; khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 117, Điều 119, Điều 279, Điều 463 của Bộ luật Dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Hà Thị Kim L.

1. Buộc bà Vũ Thị T có nghĩa vụ trả cho bà Hà Thị Kim L 626kg cà phê nhân xô.

- Về lãi suất: Nguyên đơn không yêu cầu tính lãi suất nên HĐXX không đặt ra xem xét giải quyết.

2. Về chi phí giám định: Buộc bà Vũ Thị T phải chịu toàn bộ chi phí giám định là 5.100.000 đồng và phải hoàn trả cho bà Hà Thị Kim L toàn bộ số tiền giám định là 5.100.000 đồng.

3. Về án phí: Buộc bà Vũ Thị T phải chịu 2.075.000 đồng (Hai triệu không trăm bảy mươi lăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Trả lại cho bà Hà Thị Kim L số tiền 1.017.000 đồng (Một triệu không trăm mười bảy nghìn đồng) tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ea H'Leo theo biên lai số AA/2021/0011462, ngày 23 tháng 6 năm 2023.

4. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa, được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ