- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Đức H "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 201…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức H phạm tội “ Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Luật Phí và lệ phí; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐIỆN BÀN TỈNH QUẢNG NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 90/2022/HSST Ngày: 30/8/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐIỆN BÀN - TỈNH QUẢNG NAM
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Minh Tân
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Tươi
2. Bà Lương Thị Kim Anh
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Hồ Công Tuấn - Thư ký Tòa án, TAND thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam.
Đại diện VKSND thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam tham gia phiên tòa:Bà Lê Thị Xuân - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 8 năm 2022, tại Hội trường TAND thị xã Điện Bàn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 75/2022/HSST, ngày 03/8/2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 72/2022, ngày 15/8/2022 đối với bị cáo sau:
Họ và tên: Nguyễn Đức H – Sinh năm 2003,tại huyện Đ, tỉnh Q.
Nơi cư trú: thôn S, xã ĐQ, huyện Đ, tỉnh Q.
Quốc tịch: Việt Nam;Dân tộc: Kinh;Tôn giáo: Không.
Nghề nghiệp: Thợ điện nước; Trình độ học vấn: 10/12.
Tên cha Nguyễn Văn T và tên mẹ Nguyễn Thị D.
Bị cáo chưa có vợ. Tiền án, tiền sự: không.
Nhân thân:
- Ngày 04/8/2019, có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy bị Công an Huyện Đ xử phạt số tiền 375.000 đồng.
- Ngày 04/5/2020 bị TAND Huyện Đ, tỉnh Q xử phạt 06 tháng 04 ngày tù giam về tội "Cố ý gây thương tích" theo điểm c khoản 3 Điều 134 BLHS.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn "Cấm đi khỏi nơi cư trú" tại xã Đ Q, Huyện Đ, Q. Có mặt tại phiên tòa.
Người bị hại:
Ông Võ Văn V, sinh năm 2002; .
Trú tại:Thôn P, xã T, Huyện T, Q(vắng mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
Ông Lê Hồng T, sinh năm1987;
Trú tại:Thôn S, xã ĐQ, Huyện Đ,tỉnh Q (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Đức H và Võ Văn V (sinh năm 2002, trú thôn P, xã T, Huện T, tỉnh Q - nhân viên hớt tóc quán Đen Baker) là bạn bè. Ngày 03/3/2022, H đến tiệm cắt tóc Đen Baker tại thôn L, xã Đ, thị xã Đ chơi và ở lại tại đây cùng anh V đến sáng ngày 06/3/2022, lúc này H về quê dự đám giỗ nhưng không có xe nên mượn xe mô tô hiệu Sirius BKS 92E1-166.50 của anh V để đi thì anh V đồng ý. Khi chuẩn bị đi, H kiểm tra thấy hết tiền nên nảy sinh ý định chiếm đoạt điện thoại Iphone Xsmax màu trắng của anh V rồi đem về quê cầm chỗ quen lấy tiền tiêu xài nên H nói dối anh V điện thoại của H bị Công an tạm giữ, cho H mượn điện thoại đem về để ba mẹ thấy khỏi la (thực tế H đã cầm điện thoại của mình cách đó mấy ngày để lấy tiền tiêu xài), tưởng thật nên anh V đưa điện thoại cho H và nói "đi nhanh để về đi công cHện", H trả lời "mình đi xí mình về trả liền" rồi H điều khiển xe Sirius BKS 92E1-166.50 về Huyện Đ dự đám giỗ, đến khoảng 11 giờ 30 phút cùng ngày H đem điện thoại Iphone Xsmax màu trắng của anh V đến cầm tại cửa hàng điện thoại Tân Long (tại thôn M, xã Đ, Huyện Đ do anh Lê Hồng T, sinh năm 1987, trú thôn S, xã ĐQ, Huyện Đ làm chủ) được 5.500.000 đồng rồi sử dụng xe Sirius BKS 92E1-166.50 đi Đà Nẵng chơi, tiêu xài. Anh V nhiều lần liên lạc qua Facebook yêu cầu H trả xe, điện thoại, H đọc tin nhắn rồi nhắn tin lại nói "Để H trả" nhưng do điện thoại đã cầm và không có tiền để chuộc lại nên H cũng chưa mang xe về trả như đã hẹn. Ngày 14/3/2022, anh V làm đơn trình báo. Ngày 18/3/2022, H chạy xe Sirius BKS 92E1-166.50 về nhà lấy tiền chuộc lại điện thoại trả cho V thì bị cơ quan Công an gọi lên làm việc. Tại cơ quan Công an, Nguyễn Đức H thừa nhận hành vi của mình; giao nộp xe Sirius BKS 92E1-166.50 và chuộc lại điện thoại Iphone XS max màu trắng giao nộp cho cơ quan Công an.
Về vật chứng: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã tạm giữ 01 xe môtô hiệu Yamaha Sirius BKS 92E1-166.50 và 01 điện thoại di động hiệu IphoneXS max màu trắng nhưng đã trao trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là anh Võ Văn V.
Về Dân sự:
Anh Võ Văn V đã nhận lại tài sản và không có ý kiến gì.
Bị cáo Nguyễn Đức H đã trả lại cho anh Lê Hồng T số tiền 5.500.000đ và anh Tiên không có ý kiến gì.
Tại Cáo trạng số 75/CT-VKS, ngày 03/8/2022 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Đ truy tố Nguyễn Đức H về tội “ Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại . khoản 1 Điều 174 BLHS. Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ nguyên nội dung Cáo trạng và đề nghị: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 174, điểm b,h,s khoản 1 Điều 51 BLHS. Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Đức H từ 6 tháng tù đến 9 tháng tù.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Đ, Điều tra viên, VKSND thị xã Đ và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của BLTTHS. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và bị hại, người liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Sáng ngày 03/3/2022, tại tiệm hớt tóc Đen Baker thuộc thôn L, xã Đ, thị xã Đ, Nguyễn Đức H đã dùng thủ đoạn gian dối - nói dối với anh Võ Văn V là điện thoại của mình bị Công an tạm giữ, cho H mượn điện thoại Iphone XS max màu trắng đem về ba mẹ thấy khỏi la, anh V tin đó là thật và giao điện thoại Iphone XS max màu trắng trị giá 8.000.000 đồng cho H sau đó H đem đi cầm lấy tiền tiêu xài cá nhân và không trả lại điện thoại cho anh V.
Hành vi dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản điện thoại 01 điện thoại IphoneXS max màu trắng, dung lượng 64GB, số máy MT5W2LL/A, số seri FFMXR2MZKPHD đã qua sử dụng mua vào tháng 02/2022 thời điểm bị mất có giá trị 8.000.000 đồng (tám triệu đồng) của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “ Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 BLHS.
Do đó, HĐXX có đầy đủ cơ sở để kết luận các bị cáo Nguyễn Đức H phạm tội: “ Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 BLHS là đúng người, đúng tội, đúng như cáo trạng truy tố của VKSND thị xã Điện Bàn.
Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có.
- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, bị cáo đã "bồi thưởng thiệt hại, khắc phục hậu quả"; "phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn"; "thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải"; đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, h, s khoản 1 Điều 51 BLHS. Mặc dù bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ nhưng có nhân thân xấu nên Hội đồng xét xử thống nhất áp dụng hình phạt tù để có điều kiện cải tạo, giáo dục đối với bị cáo.
Những vấn đề liên quan đến vụ án: .
- Anh Lê Hồng Tiên không biết điện thoại Nguyễn Đức H đem cầm cho mình là tài sản lừa đảo mà có nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý là phù hợp.
Về trách nhiệm dân sự:
- Anh Võ Văn V đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì thêm nên không xem xét.
- Nguyễn Đức H đã trả lại cho anh Lê Hồng T số tiền 5.500.000 đồng, anh Tiên không có yêu cầu gì thêm nên không xem xét giải quyết.
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Luật Phí và lệ phí, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội. Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức H phạm tội “ Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”
Áp dụng: Khoản 1 Điều 174; Điểm b, h, s khoản 1 Điều 51 BLHS.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Đức H 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt đi thi hành án.
Về án phí bị cáo Nguyễn Đức H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (30/8/2022). Người vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Quảng Nam; - Các cơ quan tiến hành tố tụng; - Những người tham gia tố tụng; - Đội Tổng hợp Công an Điện Bàn; - Phòng HSNV Sở Tư Pháp Q Nam; - Lưu. . . | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Lê Minh Tân |