- Tranh chấp gì? án hình sự — "cướp giật TS - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đặng Quang H phạm tội “Cướp giật tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Phí và lệ phí
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. QUY NHƠN-TỈNH BÌNH ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 90/2022/HSST Ngày: 01/3/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN - TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Văn Thị Minh Hòa
Các hội thẩm nhân dân:
1. Ông Phạm Ngọc Đông
2. Ông Trần Ngọc Hòa
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Huỳnh Thế Nữ Diệu Hiền là Thư ký Tòa án nhân dân TP. Quy Nhơn, tỉnh Bình Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP. Quy Nhơn tham gia phiên tòa: Ông Dương Văn Nhất là Kiểm sát viên.
Ngày 01 tháng 3 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 73/2021/TLST-HS ngày 31 tháng 12 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 75/2022/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 02 năm 2022 đối với bị cáo:
Đặng Quang H, tên gọi khác: Không, sinh ngày 10/10/2000 tại huyện Phù Cát, Bình Định; Nơi cư trú: xóm 5, thôn T, xã P, thành phố Q, tỉnh B; giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa: 7/12; tên cha: Đặng Huy C, sinh năm 1976, tên mẹ: Nguyễn Thị Thùy T, sinh năm 1978; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Chưa; Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/10/2021, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Quy Nhơn, có mặt.
- Bị hại: Chị Trần Thị Mai Ho, sinh năm: 1986; trú tại: xóm 4, thôn T, xã P, thành phố Q, tỉnh B; Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Anh Quản Đình D, sinh năm 1991; Trú tại: xóm 4, thôn T, xã P, thành phố Q, tỉnh B; Vắng mặt.
2. Ông Đặng Huy C, sinh năm 1976; Trú tại: xóm 5, thôn T, xã P, thành phố Q, tỉnh B. Có mặt.
3. Chị Lê Thị Kim T, sinh năm: 1999; Trú tại: xóm 4, thôn T, xã P, thành phố Q, tỉnh B; Vắng mặt.
4. Ông Lê Kim T, sinh năm: 2075; Trú tại: thôn H, xã C, huyện P, tỉnh B; Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19h00’ ngày 04/10/2021, Đặng Quang H điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, màu xanh - đen, biển số 77E1 - 544.37, của bạn gái H là Lê Thị Kim T đi trên đường Nguyễn Bỉnh Khiêm, xã Phước Mỹ, thành phố Quy Nhơn. Khi H đi đến gần ngã tư cây xăng Phương Linh 5 thì nhìn thấy chị Trần Thị Mai Ho điều khiển xe mô tô chở theo con gái là Nguyễn Phương T (sinh năm: 2012) đi trên đường về thôn Thanh Long, trong túi quần sau phía bên trái của chị Ho có 01 điện thoại di động nên tìm cách chiếm đoạt. H điều khiển xe bám sau chị Ho đến đoạn đường trước nhà ông Lê Văn T thuộc xóm 2, thôn Thanh Long, xã Phước Mỹ, thành phố Quy Nhơn thì áp sát phía bên trái, đồng thời dùng tay phải giật lấy điện thoại của chị Ho rồi tăng ga nhanh chóng tẩu thoát. Chị Ho hô hoán đuổi theo nhưng không kịp. Sau khi chiếm đoạt được điện thoại, H kiểm tra phát hiện điện thoại di động chiếm đoạt có hiệu OPPO F5, màu trắng - hồng, màn hình đã bị vỡ nứt, có ốp lưng bằng nhựa dẻo, bên trong ốp lưng có 600.000đồng. H lấy tiền cất giữ vào túi quần, vứt ốp lưng bằng nhựa (không nhớ rõ vị trí vứt nên không thu hồi được), sau đó tắt nguồn điện thoại, bỏ vào cốp xe cất giấu và không nói cho ai biết.
Đến khoảng 13h30’ ngày 05/10/2021, H điều khiển xe biển số 77E1-544.37 đến tiệm điện thoại “PiPi” địa chỉ 166 Âu Cơ, phường Bùi Thị Xuân, thành phố Quy Nhơn để mở khóa điện thoại thì bị chị Ho cùng chồng là Quản Đình D định vị, tìm đến nhưng H tẩu thoát được. Khoảng 15h30’ cùng ngày, chị Ho đến Công an xã Phước Mỹ trình báo sự việc.
Ngày 18/10/2021, Hội đồng định giá trong Tố tụng hình sự thành phố Quy Nhơn kết luận: Điện thoại OPPO F5, màu trắng - hồng, có số Imei 1: 867458038492015, Imei 2: 867458038492007, đã qua sử dụng trị giá 1.800.000 đồng (một triệu tám trăm nghìn đồng).
Riêng ốp lưng nhựa không thu hồi được, không xác định được đặc điểm, tình trạng chất lượng nên không có cơ sở để định giá.
- Vật chứng vụ án: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an TP. Quy Nhơn đã tạm giữ và trả lại xe mô tô biển số 77El - 544.37 cho chị Lê Thị Kim T, điện thoại OPPO F5 có gắn sim “0976528795” cho chị Trần Thị Mai Ho; Còn đang tạm giữ số tiền 600.000 đồng, của Đặng Quang H.
- Về trách nhiệm dân sự: Ngày 04/11/2021, ông Đặng Huy C (là bố ruột của Đặng Quang H) đã thay H bồi thường cho chị Ho số tiền 600.000 đồng. Chị Ho đã nhận lại điện thoại và số tiền 600.000 đồng, không có yêu cầu bồi thường gì thêm.
Bản Cáo trạng số 06/CT – VKSQN ngày 28 tháng 12 năm 2021 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn truy tố Đặng Quang H về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 (BLHS).
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Bị cáo Đặng Quang H có năng lực chịu trách nhiệm hình sự, đã có hành vi điều khiển dùng xe mô tô, áp sát và giật 01 điện thoại OPPO F5 trị giá 1.800.000đ và 600.000đ của chị Trần Thị Mai Ho rồi nhanh chóng điều khiển xe tẩu thoát nên Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong quá trình điều tra, bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, đã tác động gia đình bồi thường thiệt hại, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ nói trên. Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 54 BLHS, xử phạt bị cáo từ 24 đến 30 tháng tù. Về phần Dân sự, chị Ho, anh D, ông C không yêu cầu nên không xem xét. Số tiền 600.000đ vật chứng trong vụ án là tài sản do bị cáo phạm tội mà có nên tịch thu sung công quỹ Nhà nước.
Bị cáo không tự bào chữa.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo rất hối hận về hành vi của mình, xin Tòa giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Quy Nhơn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với nhau và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ nên đã đủ cơ sở để kết luận: Bị cáo Đặng Quang H có đầy đủ sức khỏe, có đủ năng lực nhận thức và điều khiển hành vi của mình, bị cáo biết rõ tài sản hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ, mọi hành vi xâm phạm đều được phát hiện kịp thời và xử lý nghiêm minh. Nhưng vì muốn có tiền tiêu xài cá nhân nên vào khoảng 19h00’ ngày 04/10/2021, Đặng Quang H đã có hành vi điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, màu xanh - đen, biển số 77E1 - 544.37 áp sát phía bên trái, đồng thời dùng tay phải giật lấy 01 điện thoại di động hiệu OPPO F5, trong ốp lưng điện thoại còn có 600.000đ của chị Trần Thị Mai Ho rồi tăng ga nhanh chóng tẩu thoát. Ngày 18/10/2021, Hội đồng định giá trong Tố tụng hình sự thành phố Quy Nhơn kết luận: Điện thoại OPPO F5, màu trắng - hồng, có số Imei 1: 867458038492015, Imei 2: 867458038492007, đã qua sử dụng trị giá 1.800.000 đồng (một triệu tám trăm nghìn đồng). Việc bị cáo sử dụng xe mô tô để tiếp cận, áp sát và cướp giật tài sản của bị hại là nguy hiểm nên hành vi của bị cáo đã phạm tội “cướp giật tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 BLHS.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an, an toàn xã hội ở địa phương nên cần xử lý nghiêm minh mới có tác dụng giáo dục riêng đối với bị cáo, răn đe và phòng ngừa chung đối với xã hội.
Xét nhân thân cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo, HĐXX thấy rằng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng, chưa có tiền án, tiền sự, có nhân thân tốt được chính quyền địa phương xác nhận. Tại cơ quan Điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, tài sản đã được trả cho bị hại và người bị hại cũng xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS đối với bị cáo. Xét thấy bị cáo có tuổi đời còn trẻ, hành động phạm tội mang tính bộc phát, bị cáo không có tình tiết tăng nặng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, HĐXX xem xét áp dụng khoản 1 Điều 54 BLHS xử bị cáo một mức án phù hợp, dưới mức thấp nhất của khung hình phạt vừa để bảo đảm tính răn đe, phòng ngừa tội phạm, vừa đảm bảo mục đích giáo dục, giúp đỡ bị cáo sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh, trở thành người công dân tốt có ích cho xã hội.
Chị Lê Thị Kim T đã giao xe mô tô, biển số 77E1 - 544.37 cho bị cáo nhưng chị không biết việc bị cáo H sử dụng để đi cướp giật tài sản nên không phạm tội.
Bồi thường thiệt hại:
Chị Trần Thị Mai Ho, anh Quản Đình D (chồng chị Ho) đã nhận lại tài sản mà bị cáo chiếm đoạt, không yêu cầu gì thêm và ông Đặng Huy C cha ruột của H cũng không yêu cầu bị cáo hoàn lại tiền đã đưa cho bị hại giúp bị cáo nên HĐXX không xét.
Về vật chứng: Số tiền 600.000đ vật chứng trong vụ án là tài sản do bị cáo phạm tội mà có nên tịch thu sung công quỹ Nhà nước.
Về án phí: Bị cáo bị kết án về tội “Cướp giật tài sản” nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Đặng Quang H phạm tội “Cướp giật tài sản”.
Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54 BLHS, xử phạt bị cáo Đặng Quang H 18 (mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam, ngày 05/10/2021.
2. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 600.000đ là vật chứng trong vụ án (theo Ủy nhiệm chi ngày 20/01/2022, tài khoản số 3949.0.1053629.00000 tại Kho bạc Nhà nước Bình Định)
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Buộc bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, Bị hại, chị Trần Thị Mai Ho và Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, ông Đặng Huy C có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (01/3/2022). Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án tại địa phương nơi cư trú.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Định; - VKSND Tp. Quy Nhơn; - Chi cục THADS Tp. Quy Nhơn; - CQ CSĐT CA Tp. Quy Nhơn; - Đội ĐTTH CA Tp. Quy Nhơn; - Đương sự; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Văn Thị Minh Hòa |