vanban.org

Bản án 90/2022/HSST — Hình sự

TAND Quận 7, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 15/06/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc Đ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 07/01/2021.

Xử phạt bị cáo Trần Tùng N 01 (một) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp hình phạt 02 (hai) năm tù của Bản án số 06/2022/HSST ngày 11/01/2022 của Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh buộc bị cáo N phải chấp hành hình phạt chung cho hai bản án là 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngà… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc Đ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 07/01/2021.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Phí và lệ phí; Điều 101 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 90/2022/HSST
Ngày: 15/6/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7, TP. HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Chí Hiếu.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Mai Thị Thanh Hương;

2.Ông Ngô Hữu Quang.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thơm - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mộng Tuyền - Kiểm sát viên

Trong ngày 15 tháng 6 năm 2022 tại Phòng xử án Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 03/2022/TLST - HS ngày 11 tháng 01 năm 2022, đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Ngọc Đ (Tên gọi khác là Bé Đ), sinh năm: 1995 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký Hộ khẩu thường trú: A Bến Vân Đ, Phường 6, Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú: B Tôn Thất T, Phường 1, Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 06/12; Nghề nghiệp: Nhân viên giao hàng; con ông Nguyễn Văn P, sinh năm 1964 và con bà Hà Thị L, sinh năm 1962; Anh chị em: 01 người chị; Vợ, con: chưa có; Tiền sự: Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 45/QĐ-TA ngày 20/01/2017 của Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh đối với Nguyễn Ngọc Đ 21 tháng; Tiền án: Không; Nhân thân: Bản án số 53/2011/HSST ngày 25/3/2011 của Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh, xử phạt 02 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 03 năm kể từ ngày tuyên án. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/01/2021.

2. Trần Tùng N, sinh năm 2003 tại Thành Phố Hồ Chí Minh; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: C Nguyễn Thị Minh K, phường 5, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú: không nơi cư trú nhất định; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Phật; Nghề nghiệp: Múa lân; Trình độ học vấn: 6/12; Con ông: Theo bị can khai cha tên Lê Đình T, sinh năm 1983 và con bà Trần Thị Ngọc T, sinh năm 1983; Anh chị em: không; Vợ, con: không; Tiền án, Tiền sự: không; Nhân thân: Bản án số 472/2018/HSST ngày 27/11/2018 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản” và Bản án số 06/2022/HSST ngày 11/01/2022 của Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh, xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo đang thi hành án theo Bản án số 06/2022/HSST ngày 11/01/2022 của Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh, xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. (có mặt)

- Người bào chữa cho bị cáo Trần Tùng N: Ông Vũ Hữu Thiên A là Luật sư thuộc Văn phòng Luật sư Phú Mỹ Thuận. (có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt)

- Bị hại: Ông Y Yim Ê B, sinh năm 1996; thường trú: Cư M’gar Đắk Lắk; nơi cư trú: Số D đường Huỳnh Tấn P, Khu phố 1, phường Tân Thuận T, Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Bà Trần Thị Ngọc T, sinh năm 1983; địa chỉ: Số C đường Nguyễn Thị Minh K, Phường 5, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)

2. Bà Võ Thị Cúc H, sinh năm 1976; địa chỉ: Số E đường Bến Vân Đ, Phường 2, Quận 4, Tp. Hồ Chí Minh. (vắng mặt)

3. Anh Nguyễn Tiến H, sinh năm 2006 có người đại diện hợp pháp là bà Nguyễn Thúy H, sinh năm 1968; thường trú: Số B Tôn Thất Thuyết, Phường 1, Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh, cư trú: Số F Trần Xuân S, phường Tân Hưng, Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 15 giờ ngày 27/12/2020, Nguyễn Ngọc Đ, Trần Tùng N, Nguyễn Tiến H, Võ Văn T rủ nhau đi trộm cắp tài sản, bán lấy tiền chia nhau tiêu xài.

Điền điều khiển xe máy hiệu Vision, biển số 59C3-123.. chở T, còn N điều khiển xe máy hiệu Wave màu xanh, biển số 59C3-039… của T chở H. Sau đó, cả nhóm đi từ Quận 4 qua Quận 7 chạy lòng vòng các tuyến đường trên địa bàn Quận 7 tìm người có xe máy để sơ hở trộm cắp.

Đến 16 giờ cùng ngày, cả nhóm đến trước khu nhà trọ địa chỉ số 39/3 Huỳnh Tấn Phát, phường Tân Thuận Tây, Quận 7, Thành phố Hố Chí Minh, thấy cửa cổng không khóa và bên trong có dựng nhiều xe máy, không có người trông coi. T ra hiệu cho Đ, N, H biết sẽ lấy trộm xe. H ngồi trên xe Wave đứng ngoài đầu hẻm cảnh giới, còn T, Đ và N vào khu nhà trọ. T, Đ đứng trước nhà trọ cảnh giới cho N vào trong, dùng đoản sắt bẻ khóa trộm lấy 01 xe máy hiệu Yamaha Exciter màu đỏ, biển số 47H1-450..của ông Y Yim Ê B (sinh năm:1996; HKTT: xã Ea D’Rong, huyện Cư M’Gar, tỉnh Đắk Lắk). Sau khi lấy xe, T gọi điện thoại cho H nói chạy xe về Quận 4 chờ trước, còn Đ chở T bằng xe Vision dùng chân đẩy kè N ngồi trên xe Yamaha Exciter vừa trộm cắp được cùng tẩu thoát về Quận 4. Khi cả 3 đi đến đường Đoàn Văn B thuộc phường 16, Quận 4 thì bị Công an phường đi tuần phát hiện nghi vấn, tiến hành kiểm tra và hỏi chìa khóa, giấy tờ xe thì cả 3 N, Đ, T sợ bị bắt, nên bỏ lại xe máy biển số 47H1-450.. vừa trộm cắp được và lên xe Vision tẩu thoát.

Đến ngày 31/12/2020, Công an Quận 4 bàn giao chiếc xe Yamaha Exciter màu đỏ biển số 47H1-450.. cho Công an Quận 7 xử lý theo quy định.

Sau khi mất tài sản, ông Y Yim Ê B trình báo Công an. Qua truy xét, Cơ quan cảnh sát Điều tra Công an Quận 7 phát hiện bắt giữ Nguyễn Ngọc Đ, Nguyễn Tiến H đưa về Công an điều tra, xử lý. Tại Cơ quan cảnh sát Điều tra Công an Quận 7, Nguyễn Ngọc Đ, Nguyễn Tiến H đã thừa nhận hành vi “Trộm cắp tài sản” của mình.

Đến ngày 10/3/2021, Trần Tùng N bị bắt trong vụ Trộm cắp khác. Tại Cơ quan cảnh sát điều tra N khai nhận cùng Nguyễn Ngọc Đ, Nguyễn Tiến H, Toàn thực hiện hành vi trộm cắp 01 xe máy hiệu Yamaha Exciter màu đỏ biển số 47H1-45079 của ông Y Yim Ê B.

Tiến hành cho Trần Tùng N, Nguyễn Tiến H, Nguyễn Ngọc Đ nhận dạng Võ Văn T qua ảnh, N, Đ và Tiến xác nhận Võ Văn T cùng thực hiện hành vi trộm cắp chiếc xe Yamaha Exciter màu đỏ, biển số 47H1-450...

Đối với xe máy hiệu Wave màu xanh biển số 59C3-039.., xe do bà Võ Thị Cúc H đứng tên chủ sở hữu. Bà H cho T mượn xe đi chơi, bà không biết T sử dụng làm phương tiện phạm tội. Cơ quan cảnh sát điều tra không thu hồi xe.

Kết luận định giá tài sản số 12/KL-HĐĐGTTHS ngày 11/01/2021 của Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự - Ủy ban nhân dân Quận 7, kết luận: xe máy hiệu Yamaha Exciter biển số 47H1-450…, tính đến thời điểm bị chiếm đoạt có giá trị 27.000.000 đồng.

Tại Bản cáo trạng số 16/CT – VKSQ7 ngày 10/01/2022 Viện kiểm sát nhân dân Quận 7 đã truy tố các bị cáo Nguyễn Ngọc Đ, Trần Tùng N về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7 vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng Khoản 1 Điều 173; điểm s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc Đ từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng Khoản 1 Điều 173; điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 90, Điều 91, Điều 98, Điều 101 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 đề nghị xử phạt bị cáo Trần Tùng N từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp hình phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” tai Bản án số 06/2022/HSST ngày 11/01/2022 của Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh nên buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Đề nghị xử lý vật chứng theo quy định pháp luật.

- Người bào chữa cho bị cáo Trần Tùng N, ông Vũ Hữu Thiên A có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, tại phiên tòa bị cáo N đồng ý việc vắng mặt của luật sư bào chữa và không yêu cầu gì khác.

Các bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi chiếm đoạt tài sản phù hợp với nội dung vụ án đã được tóm tắt như trên, đã thể hiện sự ăn năn hối cải và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa;

Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, các bị cáo,

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã

được trông tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an Quận 7, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, các đương sự không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa kết hợp các tài liệu, chứng cứ thu thập được trong hồ sơ xét có đủ cơ sở để kết luận: Các bị cáo Nguyễn Ngọc Đ, Trần Tùng N cùng với Võ Văn T, Nguyễn Tiến H đồng phạm thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản 01 xe máy hiệu Yamaha Exciter màu đỏ, biển số 47H1-450.. của ông Y Yim Ê B, có giá trị 27.000.000 đồng. Hành vi của Đ, N đã xâm phạm đến tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ, cấu thành tội phạm “Trộm cắp tài sản”. Vì vậy, tội phạm và hình phạt được quy định đối với các bị cáo theo Khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 như Viện kiểm sát nhân dân Quận 7 truy tố là đúng người, đúng tội.

Các bị cáo phạm tội là do lỗi cố ý, có dự mưu, táo bạo, liều lĩnh. Hành vi phạm tội của các bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản, đồng thời còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, trị an. Các bị cáo là người có nhân xấu, nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng do lười lao động, để có tiền tiêu xài nên các bị cáo đã phạm tội. Vì vậy, cần phải có một mức án nghiêm mới có tác dụng giáo dục, cải tạo riêng và phòng ngừa chung trong xã hội.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Bị cáo N lúc phạm tội là người dưới 18 tuổi nên được áp dụng hình phạt theo quy định tại Điều 90; Điều 91, Điều 98 và Điều 101 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Bị cáo Trần Tùng N đang thi hành án 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 06/2022/HSST ngày 11/01/2022 của Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh nên buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Đối với Nguyễn Tiến H thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nhưng chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, nên Cơ quan cảnh sát điều tra không xử lý là có căn cứ nên không xét.

Đối với Võ Văn T Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Quận 7 đã ra Quyết định khởi tố bị can, truy nã, khi nào bắt được sẽ điều tra, xử lý theo quy định của pháp luật.

Xử lý vật chứng vụ án:

- 01 xe gắn máy hiệu Yamaha Exciter màu đỏ, biển số 47H1-45079, số khung RLCUG0610HY439052, số máy G3D4E4595.., xe do ông Y Yim Ê B đứng tên chủ sở hữu. Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả cho ông Y Yim Ê B là có căn cứ nên không xét.

- 01 xe máy hiệu Vision màu xanh biển số 59C3-123..., số máy: JF86E5120605, số khung: RLHJF5837LZ4137.. xe do bị cáo Nguyễn Ngọc Đ đứng tên chủ sơ hữu, ngày 27/12/2020 bị cáo Đ sử dụng làm phương tiện phạm tội nên xét tịch thu sung công quỹ Nhà nước.

- 01 nón bảo hiểm nửa đầu màu xanh đen của bị cáo Đ. Bị cáo Đ không yêu cầu nhận lại, xét không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

- 01 điện thoại di động hiệu Samsung J7 Prime màu vàng đồng. Bị cáo Đ khai sử dụng vào mục đích phạm tội nên tịch thu công quỹ Nhà nước.

- 01 điện thoại di động Iphone 6 màu đồng thu giữ của Nguyễn Tiến H. H khai sử dụng vào mục đích phạm tội nên tịch thu công quỹ Nhà nước.

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại ông Y Yim Ê B đã nhận lại xe, không có yêu cầu gì khác và tại phiên tòa hôm nay vắng mặt nên không xét.

Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ Khoản 1 Điều 173; điểm s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017:

Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc Đ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 07/01/2021.

2. Căn cứ Khoản 1 Điều 173; điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 90; Điều 91, Điều 98 và Điều 101 và Điều 56 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017:

Xử phạt bị cáo Trần Tùng N 01 (một) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp hình phạt 02 (hai) năm tù của Bản án số 06/2022/HSST ngày 11/01/2022 của Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh buộc bị cáo N phải chấp hành hình phạt chung cho hai bản án là 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 10/3/2021.

3. Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2021:

- Tịch thu sung công quỹ Nhà nước:

+ 01 xe máy hiệu Vision màu xanh biển số 59C3-123…, số máy: JF86E5120605, số khung: RLHJF5837LZ4137.. xe của bị cáo Nguyễn Ngọc Điền.

+ 01 điện thoại di động hiệu Samsung J7 Prime màu vàng đồng của bị cáo Điền.

+ 01 điện thoại di động Iphone 6 màu đồng của Nguyễn Tiến H.

- Tịch thu tiêu hủy: 01 nón bảo hiểm nửa đầu màu xanh đen của bị cáo Đ.

(theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số 02 ngày 05/10/2021 của Chi cục thi hành án dân sự Quận 7).

4. Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội:

Mỗi bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng.

Trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 15/6/2022), các bị cáo được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm đến Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hợp lệ.

Cỡ chữ