- Tranh chấp gì? án hình sự — "NGUYỄN THANH HẢI (TRỘM CẮP MAI VÀNG) - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? * Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thanh H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬ N THỐ T NỐ T THÀNH PHỐ CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 90/2022/ HSST Ngày: 20-12-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬ N THỐ T NỐ T - THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Huỳnh Thị Mộng Tuyền.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Trần Thúy Kiên.
2. Bà Thái Ánh Trinh.
Thư ký phiên toà: Ông Điêu Khắc Khanh – Cán bộ Toà án Nhân dân quậ n Thố t Nố t - thành phố Cần Thơ.
Đại diện viện kiểm sát nhân dân quậ n Thố t Nố t - thành phố Cần Thơ tham gia phiên toà: Ông Hồng Quốc Vệ - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân quậ n Thố t Nố t , thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 78/2022/TLST-HS ngày 24 tháng 11 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 90/2022/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 11 năm 2022, đối với bị cáo:
Nguyễn Thanh H, sinh ngày 01/01/1980, tại xã B - huyện C – tỉnh Cần Thơ; nơi đăng ký thường trú: khu vực A, phường B, quận C, thành phố Cần Thơ; nghề nghiệ p: làm thuê; trình độ học vấn: 3/12; dân tộ c: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễ n Văn V, sinh năm 1957 (đã chết) và bà Hồ Thị D (đã chết); Vợ tên: Trần Thị Bích N, sinh năm 1991; Con: có 02 người (lớn sinh năm 2011, nhỏ sinh năm 2018); Tiề n á n : không; Tiền sự: 01 lần – Ngày 22/01/2020 bị Tòa án nhân dân quận C, thành phố Cần Thơ Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 15 tháng, chấp hành xong quyết định ngày 16/01/2021; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 24/8/2022 cho đến nay, tại khu vực A, phường B quận C, thành phố Cần Thơ.
(Bị cáo có mặt tại phiên tòa)
- Bị hại:
1/ Phạm Văn H, sinh năm 1970. Địa chỉ: khu vực A, phường B, quận C, thành phố Cần Thơ. (xin vắng mặt)
2/ Trần Ngay T, sinh năm 1973. Địa chỉ: khu vực D, phường B, quận C, thành phố Cần Thơ. (xin vắng mặt)
- Người làm chứng:
1/ Nguyễn Văn N, sinh năm 1977. (xin vắng mặt)
2/ Nguyễn Thị T, sinh năm 1968. (vắng mặt)
Cùng địa chỉ: khu vực A, phường B, quận C, thành phố Cần Thơ.
NỘ I DUNG VỤ Á N:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Từ khoảng tháng 6 năm 2022 đến ngày 09 tháng 7 năm 2022, Nguyễn Thanh H lén lút lấy trộm 06 (sáu) cây mai vàng của ông Trần Ngay T tại khu vực D, phường B, quận C và 01 (một) cây mai vàng của ông Phạm Văn H tại khu vực A, phường B, quận C, thành phố Cần Thơ, cụ thể như sau:
- Lần thứ nhất: Do H có đi vào vườn mai của ông T để hái rau, thấy có nhiều cây mai vàng nên Hải nảy sinh ý định trộm mai về để trồng. Đến cuối tháng 6 năm 2022, Hải trèo qua lưới B40 vào vườn mai của ông T lấy trộm 02 (hai) cây mai vàng thân xoắn, có hoành 20cm, cao 80cm, đã cắt hết cành lá (hình số 3, 4) (Bút lục 33). Sau đó, mang về nhà H cắt tỉa lại và trồng vào chậu.
- Lần thứ hai: Vào đầu tháng 7 năm 2022 giống như lần thứ nhất H vào vườn Mai của ông T lấy trộm 01 (một) cây mai vàng thân xoắn, có hoành 20cm, cao 60cm, đã cắt hết cành lá (hình số 5) (Bút lục 34) và 01 (một) cây mai vàng thân xoắn, có hoành 15cm, cao 50cm đã cắt hết cành lá (hình số 6) (Bút lục 34) tại vườn mai của ông T. Sau đó, mang về nhà H cắt tỉa lại và trồng vào chậu.
- Lần thứ 3: khoảng giữa tháng 7 năm 2022, H tiếp tục vào vườn Mai của ông T lấy trộm 01 (một) cây mai vàng gốc xù, thân thẳng, có hoành 25cm, cao 01m, cắt hết cành lá (hình số 2) (Bút lục 32) và 01 (một) cây mai vàng thân xoắn, có hoành 15cm, cao 50cm đã cắt hết cành lá (hình số 7) (Bút lục 35), mang về nhà cắt tỉa và trồng vào chậu.
- Lần thứ tư: Khoảng 23 giờ ngày 09 tháng 7 năm 2022, trên đường đi soi cóc về H phát hiện sân nhà bà Nguyễn Thị T có trồng nhiều cây mai vàng trong chậu nên H nảy sinh ý định trộm cắp mai nên H đi vào sân nhà của bà T nhổ trộm 01 (một) cây mai vàng thân xù, thân thẳng, có hoành 30cm đã cắt hết cành lá (hình số 1) (Bút lục 32) của ông H gửi nhờ sân nhà bà T mang về nhà cắt tỉa lại và trồng vào chậu.
Sau khi sự việc xảy ra, ông T và ông H phát hiện bị mất trộm cây mai vàng nên trình báo với Công an phường B. Công an phường B tiến hành xác minh và thu giữ tại nhà của H 07 (bảy) cây mai vàng.
Tại Bản kết luận định giá số 37/BKL-HĐĐGTS ngày 30/07/2022 của Hội đồng định giá UBND quận C, kết luận:
- 01 (một) cây mai vàng thân xù, thân thẳng, có hoành 30cm, cao 01 mét, đã cắt hết cành lá (hình số 1), với giá trị là 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng).
- 01 (một) cây mai vàng gốc xù, thân thẳng, có hoành 25cm, cao 01 mét, cắt hết cành lá (hình số 2), với giá trị là 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng).
- 01 (một) cây mai vàng thân xoắn, có hoành 20cm, cao 80cm, đã cắt hết cành lá (hình số 3), với giá trị là 1.000.000 đồng (Một triệu đồng).
- 01 (một) cây mai vàng thân xoắn, có hoành 20cm, cao 80cm, đã cắt hết cành lá (hình số 4), với giá trị là 1.000.000 đồng (Một triệu đồng).
- 01 (một) cây mai vàng thân xoắn, có hoành 20cm, cao 60cm, đã cắt hết cành lá (hình số 5) với giá trị là 500.000 đồng (Năm trăm ngàn đồng).
- 01 (một) cây mai vàng thân xoắn, có hoành 15cm, cao 50cm, đã cắt hết cành lá (hình số 6), với giá trị là 500.000 đồng (Năm trăm ngàn đồng).
- 01 (một) cây mai vàng thân xoắn, có hoành 15cm, cao 50cm, đã cắt hết cành lá (hình số 7), với giá trị là 500.000 đồng (Năm trăm ngàn đồng).
Tổng giá trị tài sản được Hội đồng thống nhất định giá là 10.500.000 đồng (Mười triệu năm trăm ngàn đồng).
Quá trình điều tra, H thừa nhận hành vi phạm tội, lời khai phù hợp với những chứng cứ được thu thập trong hồ sơ vụ án.
Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại 06 (sáu) cây mai bị mất trộm cho ông Trần Ngay T và 01 (một) cây mai vàng cho ông Phạm Văn H, ông T và ông H không yêu gì thêm về dân sự.
Tại Cáo trạng số 01/CT-VKSTN ngày 23 tháng 11 năm 2022, Viện kiểm sát nhân dân quận C truy tố bị cáo Nguyễn Thanh H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 (Bộ luật hình sự).
Tại phiên tòa:
Bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội, thống nhất nội dung cáo trạng Viện kiểm sát truy tố, đồng thời bị cáo xác định cũng không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận định giá nêu trên.
Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên nội dung cáo trạng truy tố, không bổ sung gì thêm, đồng thời phát biểu quan điểm luận tội, phân tích hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Trên cơ sở đó đề nghị: Tuyên bị cáo Nguyễn Thanh H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo Nguyễ n Thanh H từ 01 năm đến 02 năm tù.
Hình phạt bổ sung: Miễn cho bị cáo do không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định.
- Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: Trong điều tra, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại 06 (sáu) cây mai bị mất trộm cho ông Trần Ngay T và 01 (một) cây mai vàng cho ông Phạm Văn H xong nên không đề cập giải quyết.
- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại ông Trần Ngay T và ông Phạm Văn H không yêu cầu bồi thường nên không đề cập giải quyết.
Bị cáo nói lời sau cùng: xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm trở về với gia đình phấn đấu sống có ích.
NHẬ N ĐỊ NH CỦ A HỘ I ĐỒ NG XÉ T XỬ :
Trên cơ sở nộ i dung vụ á n , căn cứ và o cá c tà i liệ u trong hồ sơ vụ á n đã đượ c tranh tụng tạ i phiên tò a, Hộ i đồ ng xé t xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra – Công an quận C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
[2] Về tố tụng: Tại phiên tòa bị hại ông T, ông H và người làm chứng ông N có đơn xin xét xử vắng mặt, còn người làm chứng bà T vắng mặt không lý do. Xét thấy, trong quá trình điều tra có thu thập được lời khai của những người vắng mặt, mặc khác tài sản mất trộm cũng đã được thu hồi trả lại cho bị hại xong, bị hại cũng không yêu cầu bồi thường gì thêm nên việc vắng mặt của những người này không làm ảnh hưởng đến việc xét xử. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 292, 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự quyết định vẫn xét xử vụ án theo thủ tục chung là phù hợp.
[3] Trong điều tra và qua tranh tụng tại phiên toà, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo phù hợp với các chứng cứ như: các biên bản về hoạt động điều tra, biên bản ghi lời khai của người bị hại, người làm chứng, kết luận định giá tài sản… Như vậy, có cơ sở để xác định từ khoảng tháng 6 năm 2022 đến ngày 09 tháng 7 năm 2022, Nguyễn Thanh H có hành vi trộm cắp 06 (sáu) cây mai vàng của ông Trần Ngay T và 01 (một) cây mai vàng của ông Phạm Văn H với tổng giá trị là 10.500.000 đồng. Hành vi sai trái mà bị cáo thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
[4] Về tính chất mức độ của hành vi phạm tội: Xét bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, hoàn toàn nhận thức được hành vi trộm cắp tài sản là vi phạm pháp luật, nhưng với bản tính tham lam , mong muốn có đượ c cây Mai kiể ng để trồ ng mà không phả i tố n tiề n củ a nên bị cáo đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của người khác để phục vụ nhu cầu giải trí của bản thân. Hành vi của bị cáo thực hiện đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật tôn trọng và bảo vệ, đồng thời còn gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Do vậy, cần dành cho bị cáo mức hình phạt tương xứng để giáo dục bị cáo có ý thức tôn trọng pháp luật, tôn trọng quyền sở hữu tài sản của người khác cũng như tuân thủ các chuẩn mực đạo đức xã hội là cần thiết.
[5] Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, vào ngày 22/01/2020 bị Tòa án nhân dân quận C, thành phố Cần Thơ Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 15 tháng, chấp hành xong quyết định ngày 16/01/2021 đến nay chưa được xóa tiền sự.
[6] Về tình tiết tăng nặng: Do bị cáo thực hiện hành vi trộm cắp tài sản trên 2 lần, mỗi lần trị giá trên 2.000.000 đồng nên bị cáo phải gánh chịu thêm tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự phạm tội 02 lần trở lên theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.
[7] Về tình tiết giảm nhẹ: Khi lượng hình Hội đồng xét xử có xem xét đến thái độ khai báo của bị cáo trong điều tra và tại phiên tòa có thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải; tài sản bị cáo trộm cũng đã được thu hồi giao trả lại và không gây thiệt hại cho người bị hại; người bị hại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ phần nào hình phạt cho bị cáo.
[8] Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”. Do hiện nay bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử thống nhất đề nghị của đại diện Viện kiểm sát miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
[9] Về xử lý vật chứng: Trong điều tra, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại 06 (sáu) cây mai vàng bị mất trộm cho bị hại Trần Ngay T và 01 (một) cây mai vàng cho bị hại Phạm Văn H là phù hợp nên Hội đồng xét xử không xét đến.
[10] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại ông Trần Ngay T và ông Phạm Văn H không yêu cầu bị cáo bồi thường nên Hội đồng xét xử không xét đến.
[11] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên, Hội đồng xét xử;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
* Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thanh H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạ t: Bị cáo Nguyễn Thanh H 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
Hình phạt bổ sung: Miễn cho bị cáo.
- Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Nguyễn Thanh H nộp án phí hình sự sơ thẩm số tiền 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) tại Chi Cục Thi hành án Dân sự quận C, thành phố Cần Thơ.
- Về quyền kháng cáo: Báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt theo quy định.
- Về quyền, nghĩa vụ và thời hạn thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa Tận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND TP. Cần Thơ; - VKSND quận C; - Công an quận C; - Chi cục THA DS quận C; - Bị cáo; - Bị hại; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Huỳnh Thị Mộng Tuyền |