vanban.org

Bản án 90/2022/HSST — Hình sự

TAND huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh Tuyên án 07/12/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Phạm Lam C phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Xử phạt Phạm Lam C 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 26/8/2022. Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án 7/12/2022 để đảm bảo thi hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án hình sự bị cáo phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phạm Lam C phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 174 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THUẬN THÀNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BẮC NINH
Bản án số: 90/2022/HSST
Ngày 7/12/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN THÀNH - TỈNH BẮC NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Sỹ Cây.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đăng Dũng, bà Nguyễn Thị Kim Dung.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoa, Thư ký Toà án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Thành tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lâm, Kiểm sát viên.

Ngày 7 tháng 12 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 82/2022/TLST-HS, ngày 02 tháng 11 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 88/2022/QĐXXST- HS ngày 24/11/2022 đối với:

Bị cáo Phạm Lam C, sinh năm 1992.

Tên gọi khác: Không. Giới tính: Nam.

HKTT: Thôn Trạm Trai, xã Ninh Xá, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh.

Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ học vấn: Lớp 08/12. Bố đẻ: Nguyễn Thanh Quý, sinh năm 1960. Mẹ đẻ: Vũ Thị Lan, sinh năm 1963. Gia đình có 03 chị em, bị cáo là con út. Vợ, con: Chưa có.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/8/2022 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh (Bị cáo có mặt).

Bị hại: Anh Nguyễn Viết Tiến, sinh năm 1995. (đề nghị vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn Đường, xã An Bình, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Nguyễn Văn Thuần, sinh năm 1962. (đề nghị vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn Ngọc Khám, xã Gia Đông, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh.

2. Chị Phạm Thị Quyên, sinh năm 1986.

(có mặt)

Địa chỉ: Thôn Trạm Trai, xã Ninh Xá, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do không có tiền tiêu sài nên Phạm Lam C đã nảy sinh ý đồ mượn xe mô tô của anh Nguyễn Viết Tiến, sinh năm 1995 người thôn Đường, xã An Bình, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh là người quen ngoài xã hội của C để đem bán lấy tiền tiêu sài cá nhân. Khoảng 09 giờ ngày 8/4/2019 C một mình đi bộ đến quán Internet HT thuộc thôn Hoàng Xá, xã Ninh Xá, huyện Thuận Thành tìm gặp anh Tiến đang chơi Game ở đó. Khi gặp anh Tiến, C nói dối “Cho anh mượn xe đi đón mẹ”. Anh Tiến đồng ý và giao xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave anpha màu đen BKS 99L5-1704 của mình cùng chìa khoá cho C mượn. Sau đó C điều khiển xe đi đâu thì anh Tiến không biết. Đến khoảng 11 giờ cùng ngày anh Tiến có gọi điện cho C nói đem xe về thì C có nói “Đây anh đang về” nhưng C không đem xe về cho anh Tiến. Đến hơn 12 giờ vẫn không thấy C đem xe về, anh Tiến có gọi lại cho C nhưng không được. Sau đó anh Tiến đến nhà C thì thấy bố mẹ C vẫn ở nhà và cũng không có việc C đi đón mẹ như C đã nói. Đến khoảng hơn 9 giờ ngày hôm sau C gọi điện cho anh Tiến nói là đã đem xe đi bán cho ông Nguyễn Văn Thuần, sinh năm 1962 nhà ở thôn Ngọc Khám, xã Gia Đông, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. Nhưng thực chất phải đến hơn 18 giờ cùng ngày C mới đem bán cho ông Thuần được số tiền 8.000.000 đồng nhưng giấy bán ghi là 8.500.000 đồng. Sau khi bán xe C bỏ vào thành phố Hồ Chí Minh chơi rồi tiêu sài hết số tiền này. Đến ngày 14/4/2019 anh Tiến đã đến và hỏi mua lại của ông Thuần chiếc xe với giá 9.500.000 đồng nhưng hai bên cũng không viết giấy tờ gì. Sau đó anh Tiến đã làm đơn trình báo với Công an huyện Thuận Thành đồng thời giao nộp chiếc xe mô tô cùng với giấy đăng ký xe để phục vụ điều tra.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 16/KLĐG-HĐ ĐG ngày 3/5/2019 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện Thuận Thành đã kết luận; 01 xe mô tô hiệu Honda Wave Anpha màu đen BKS 99L5-1705 tại thời điểm định giá có giá trị là 10.000.000 đồng.

Ngày 26/8/2022 Phạm Lam C đến Cơ quan điều tra đầu thú khai nhận hành vi phạm tội của mình. Đối với chiếc xe mô tô sau đó Cơ quan điều tra đã trả lại anh Tiến. Trong quá trình điều tra vụ án C cũng đã tác động gia đình nhờ chị Phạm Thị Quyên là chị gái C bồi thường cho anh Tiến số tiền 9.500.000 đồng, anh Tiến đã nhận đủ số tiền và không có yêu cầu gì.

Với nội dung trên, tại bản Cáo trạng số 87/CTr-VKS ngày 2/11/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Thành truy đã tố Phạm Lam C về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 của Bộ Luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo C khai nhận hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng đã truy tố, bị cáo thừa nhận do cần tiều tiêu sài cá nhân nên bị cáo đã nói dối hỏi mượn xe của anh Tiến nói là mượn xe đi đón mẹ nhưng sau khi nhận được xe máy của Tiến, bị cáo đã thực hiện hành vi chiếm đoạt bằng việc đem xe đi bán lấy tiền tiêu sài cá nhân. Bị cáo thừa nhận cáo trạng truy tố bị cáo về hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản là có căn cứ, đúng với hành vi mà bị cáo đã thực hiện.

Trong phần tranh tụng, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Thành thực hành quyền công tố tại phiên tòa đã đưa ra chứng cứ để buộc tội Phạm Lam C phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” với giá trị tài sản chiếm đoạt là 10.000.000 đồng và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo C phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm b điểm i điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ Luật hình sự, xử phạt C từ 08 đến 11 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo. Do bị cáo không có công việc làm, không có thu nhập ổn định nên miễn áp dụng hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Về vật chứng của vụ án và trách nhiệm dân sự: Tài sản phạm tội Cơ quan điều tra đã trả lại chủ sở hữu, anh Tiến đã nhận lại và không có yêu cầu gì nên không xem xét giải quyết. Đối với ông Nguyễn Văn Thuần và chị Phạm Thị Quyên cũng không có yêu cầu gì nên cũng không xem xét giải quyết.

Bị cáo C nhận tội và không tham gia tranh luận với đại diện Viện kiểm sát mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt. Trong phần nói lời sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và miễn cho bị cáo hình phạt bổ sung.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét toàn diện chứng cứ, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát và của bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

. Lời khai của bị cáo Phạm Lam C tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được thể hiện trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, có căn cứ để xác định: Do muốn có tiền để tiêu sài cá nhân, bị cáo C đã nảy sinh ý định lừa lấy xe máy của anh Nguyễn Viết Tiến để đem đi bán lấy tiền ăn tiêu. Bị cáo đã dùng thủ đoạn gian dối bằng việc hỏi mượn xe của anh Tiến nói dối là để đi đón mẹ, nhưng thực tế là bị cáo không phải đi đón mẹ. Mà sau khi mượn được xe bị cáo đã thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản bằng việc đem xe đi bán để lấy tiền ăn tiêu cá nhân. Bị cáo đã có hành vi dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản của người khác, giá trị tài sản chiếm đoạt trị giá 10.000.000 đồng. Do vậy đã có đủ căn cứ kết luận bị cáo phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, tội phạm được quy định tại khoản 1 Điều 174 của Bộ Luật hình sự như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Thành truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

. Xét về tích chất, mục đích, nguyên nhân của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an, an ninh trên địa bàn. Bị cáo phạm tội do lười lao động, thích ăn chơi đua đòi, lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người khác để thoả mãn nhu cầu ích kỷ của bản thân nên cần phải có hình phạt tương xứng với tính chất mức độ hành vi của bị cáo để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

. Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Bị cáo có nhân thân tốt và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại khoản 1 Điều 48 Bộ Luật hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Sau khi phạm tội bị cáo cũng đã tự nguyện tác động gia đình bồi thường cho bị hại số tiền để khắc phục hậu quả nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b điểm s điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ Luật hình sự. Bị cáo sau khi phạm tội cũng đã ra đầu thú, phía bị hại có đơn đề nghị giảm nhẹ hình phạt, do vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ Luật hình sự. Đây là những tình tiết để Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi lượng hình.

Xem xét các tình tiết của vụ án thì thấy, bị cáo mặc dù là người có nhân thân tốt, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ nhưng qua xác minh cũng như lời trình bày của phía gia đình bị cáo có mặt tại phiên toà thì thấy. Bị cáo là thanh niên thích lêu lổng, không chịu tu dưỡng rèn luyện bản thân, sống buông thả đua đòi vi phạm pháp luật. Do đó cần có hình phạt cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục, cải tạo đối với bị cáo để bị cáo có cơ hội cải tạo trở thành người có ích cho xã hội sau này.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có công việc ổn định, không có thu nhập thường xuyên nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

. Về trách nhiệm dân sự: Anh Nguyễn Viết Tiến đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt và số tiền 9.500.000 đồng mà anh đã bỏ ra để chuộc xe về. Anh Tiến không có yêu cầu gì nên không xem xét giải quyết.

. Về vật chứng của vụ án: Chiếc xe mô tô hiệu Honda Wave Anpha màu đen BKS 99L5-1705 là vật chứng của vụ án đã trả lại anh Tiến là chủ sở hữu, anh Tiến đã nhận xe và không có yêu cầu gì nên không xem xét giải quyết.

. Liên quan đến vụ án có: Đối với ông Nguyễn Văn Thuần là người đã mua chiếc xe mô tô của C do phạm tội mà có. Khi mua C cũng có giấy tờ đăng ký xe, hai bên cũng có làm giấy tờ mua bán, ông Thuần cũng không biết đây là tài sản phạm tội mà có nên Cơ quan điều tra nhắc nhở mà không xem xét xử lý đối với ông Thuần là phù hợp. Đối với chị Phạm Thị Quyên là chị gái của C đã bỏ ra số tiền 9.500.000 đồng để thay mặt C bồi thường cho anh Tiến số tiền mà anh Tiến đã bỏ ra để chuộc lại xe. Chị Quyên không yêu cầu C phải trả lại nên cũng không xem xét giải quyết.

. Về án phí: Bị cáo C phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bởi các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Phạm Lam C phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm b điểm i điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ Luật hình sự. Điều 136; Điều 329 Bộ Luật tố tụng hình sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí của Tòa án, tuyên xử.

1. Xử phạt Phạm Lam C 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 26/8/2022.

Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án 7/12/2022 để đảm bảo thi hành án.

2. Về án phí: Buộc bị cáo C phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo: Bị cáo C, chị Quyên có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Tiến, ông Thuần có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án.

Cỡ chữ