- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Dương Ngọc Phấn bị Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 truy tố về tội "Trộm cắp tài sản" theo khoản 1 Điều 178 của BLHS - phạm tội trộm cắ…"
- Tòa quyết gì? Tạm giam bị cáo: Dƣơng Ngọc P (Dương Thị P), sinh năm 1972; nơi sinh: Thành phố Hồ Chí Minh; hộ khẩu thường trú: 103/18 đường Lò Siêu, Phường 16, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: Không có nơi cư trú nhất định.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 109 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 113 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 90/2022/HS-ST Ngày: 13/12/2022 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Phúc.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Phương Tín;
Ông Nguyễn Minh Phương.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thùy Dương - Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Trúc Giang - Kiểm sát viên.
Trong ngày 13 tháng 12 năm 2022, tại Phòng xử án A, Trụ sở Tòa án nhân dân Quận 11, số 172 đường Ông Ích Khiêm, Phường 5, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 86/2022/TLST-HS ngày 27 tháng 10 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 89/2022/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 11 năm 2022, đối với bị cáo:
Dƣơng Ngọc P; tên gọi khác: Dương Thị P; sinh năm 1972 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký thường trú: đường L, Phường 16, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: Không có nơi cư trú nhất định; nghề nghiệp: Không có; trình độ văn hoá (học vấn): Không biết chữ; dân tộc: Hoa; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Dương Quốc Ph (chết) và bà La Vân A; bị cáo không có chồng, con; tiền án: Không có; tiền sự: Không có; nhân thân:
- Ngày 13/10/1994, Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 05 năm tù về tội “Hiếp dâm” theo khoản 4, Điều 112 của Bộ luật hình sự năm 1985 tại Bản án số 1148/HSST. Đã chấp hành xong ngày 10/7/1997.
- Ngày 10/8/2000, Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 05 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1, Điều 194 của Bộ luật hình sự năm 1999 tại Bản án số 2106/HSST. Đã chấp hành xong ngày 20/6/2004.
- Ngày 24/7/2006, Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 04 năm tù về tội “Cướp giật tài sản” theo khoản 2, Điều 136 của Bộ luật hình sự năm 1999 tại Bản án số 983/HSST. Đã chấp hành xong ngày 23/9/2009.
- Ngày 27/10/2016, Toà án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh áp dụng biện pháp hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 21 tháng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Đã chấp hành xong; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/7/2022; (Có mặt).
- Bị hại: Chị Cao Ngọc Kim T, sinh năm 2001; địa chỉ: đường N, phường Đa Kao, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ 30 ngày 21/7/2022, Dương Ngọc P điều khiển xe máy biển số 93H7-2996 lưu thông trên đường 3/2, Phường 8, Quận 11 để lượm ve chai. Khi đến trước nhà số 1196 đường 3/2, Phường 8, Quận 11, P để xe máy trên lề, ngồi nghỉ ngơi. Lúc này, P thấy chị Cao Ngọc Kim T đang điều khiển xe máy thì bị mệt nên chạy vào lề. Anh Trương Quý B là bạn chị T cũng điều khiển xe máy chạy tới. P cùng anh Bảo dìu chị T vào trong lề ngồi nghỉ rồi anh B đi mua nước. P ngồi trông coi chị T, phát hiện trong túi xách đang mở của chị T có 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 Pro nên nảy sinh ý định chiếm đoạt. P lén lút lấy điện thoại trên, rồi cất vào túi quần P đang mặc. Sau đó, P lên xe máy bỏ đi. Khi P đang kiếm chỗ bán điện thoại thì bị chị T cùng anh B điều khiển xe máy theo định vị của điện thoại truy đuổi đến trước nhà số 745 đường Hồng Bàng, Phường 6, Quận 6 thì P bị chị T cùng quần chúng nhân dân bắt giữ, đưa đến Công an Phường 8, Quận 11 lập biên bản.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 11 đã yêu cầu định giá đối với tài sản bị chiếm đoạt. Tại Bản kết luận định giá tài sản số 67/KL- HĐĐGTS ngày 26/7/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân Quận 11 kết luận: 01 điện thoại điện thoại di động hiệu Iphone 11 Pro trị giá 10.250.000 đồng (Mười triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng).
Tại Cơ quan điều tra, Dương Ngọc P khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Vật chứng và tài sản thu giữ trong vụ án:
- 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 Pro. Cơ quan điều tra đã trả lại tài sản cho bị hại – chị Cao Ngọc Kim T.
- 01 xe máy biển số 93H7-2996 là phương tiện bị cáo P dùng để tẩu thoát. Qua giám định số khung bị mài mất số, số máy: LC150FMG-02080650. Qua xác minh, biển số 93H7-2996 được cấp cho xe máy hiệu Wave, đứng tên anh Lê Thành H. Anh H cho biết đã bán xe máy trên cho 01 người không rõ lai lịch vào năm 2009; Số máy: LC150FMG-02080650 là của xe máy hiệu Dream của anh Nguyễn Thừa H1. Anh H1 cho biết đã bán xe máy trên cho 01 người không rõ lai lịch vào năm 2012. P khai nhận mượn xe máy trên của 01 đối tượng không rõ lai lịch cùng lượm ve chai. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 11 đã có văn bản đăng báo tìm chủ sở hữu chiếc xe môtô trên đến nay chưa có kết quả.
- 01 điện thoại di động hiệu Nokia, 01 điện thoại di động hiệu ASUS, là tài sản riêng của P.
- 01 áo khoác màu đỏ, 01 áo thun màu trắng phía trước có chữ HOPE, 01 quần thun màu đen, 01 nón bảo hiểm màu xanh, là trang phục bị can mặc khi phạm tội.
- 01 USB chứa hình ảnh P thừa nhận hành vi phạm tội.
Tại phiên tòa, bị cáo Dương Ngọc P có lời khai phù hợp với các lời khai tại Cơ quan điều tra và những chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung bản Cáo trạng đã nêu và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Bản Cáo trạng số 94/CT-VKS-Q.11 ngày 26 tháng 10 năm 2022, Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 đã truy tố bị cáo Dương Ngọc P tội danh “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 trình bày lời luận tội, đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù; đề nghị xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các lời khai tại cơ quan điều tra, những chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và các tang vật thu giữ được. Do đó, có đủ cơ sở để xác định:
Vào khoảng 20 giờ 30 ngày 21/7/2022, tại trước nhà số 1196 đường 3/2, Phường 8, Quận 11, bị cáo Dương Ngọc P đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 Pro, dung lượng 64Gb màu đen xám, đã qua sử dụng trị giá 10.250.000 đồng, là tài sản của chị Cao Ngọc Kim T.
Bị cáo nhận thức rõ được hành vi của mình là trái pháp luật nhưng vì tính tư lợi, lười lao động bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự, an toàn xã hội. Do đó, Hội đồng xét xử nhận thấy có đủ cơ sở để kết luận bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Về các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Tình tiết tăng nặng: Không có.
Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự:
- 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 Pro, dung lượng 64Gb, màu đen xám, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 11 đã lập biên bản trả lại tài sản cho chủ sở hữu. Chị Cao Ngọc Kim T đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét;
- Trả lại cho bị cáo: 01 (một) máy điện thoại di động hiệu Nokia cũ màu trắng, 01 (một) máy điện thoại di động hiệu ASUS màu đỏ đen là tài sản cá nhân của bị cáo P không liên quan đến vụ án.
- 01 áo khoác màu đỏ, 01 áo thun màu trắng phía trước có chữ HOPE, 01 quần thun màu đen, 01 nón bảo hiểm màu xanh, là trang phục bị cáo sử dụng khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, bị cáo P từ chối nhận lại nên tịch thu tiêu hủy.
- Biển kiểm soát xe máy 93H7-2996 được cấp cho xe máy hiệu Wave, đứng tên anh Lê Thành H. Xác minh anh H cho biết đã bán xe máy trên cho 01 người không rõ lai lịch vào năm 2009. Biển số xe trên không xác định được chủ sở hữu, không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
- 01 xe môtô nhãn hiệu Honda Dream màu nâu, số khung: không có, số máy: LC150FMG-02080650, là xe bị cáo P sử dụng làm phương tiện đi lại, P khai mượn xe máy trên của một đối tượng không rõ lai lịch, xe không có giấy tờ xác định chủ sở hữu. Do đó, cần thông báo trong thời hạn 12 tháng để chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp (nếu có) đến nhận, quá thời hạn trên kể từ ngày Chi cục Thi hành án dân sự Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh tiến hành thông báo mà không có chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp liên hệ nhận thì tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước.
- Đưa lưu hồ sơ 01 USB chứa hình ảnh P thừa nhận hành vi phạm tội.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Quận 11, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 11, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 50; khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Tuyên bố bị cáo Dương Ngọc P (Dương Thị P) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Dương Ngọc P (Dương Thị P) 02 (hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 23/7/2022.
Căn cứ vào Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 46, Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017),
Trả lại cho bị cáo Dương Ngọc P (Dương Thị P): 01 (một) máy điện thoại di động hiệu Nokia cũ màu trắng; 01 (một) máy điện thoại di động hiệu ASUS màu đỏ đen.
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) biển kiểm soát xe máy mang số: 93H7-7996; 01 (một) áo khoác vải dù màu đỏ lưng áo in chữ BEST EXPRESS màu trắng; 01 (một) áo thun nữ ngắn tay màu trắng phía trước áo in dòng chữ HOPE màu đen; 01 (một) quần thun dài màu đen; 01 (một) nón bảo hiểm màu xanh có in chữ BAEMIN màu trắng.
Thông báo trong thời hạn 12 tháng để chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp (nếu có) đến nhận đối với 01 xe môtô hiệu Honda Dream màu nâu, số khung: Không có; số máy: LC150FMG-02080650; quá thời hạn trên kể từ ngày Chi cục Thi hành án dân sự Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh tiến hành thông báo mà không có chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp liên hệ nhận thì tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước.
(Theo Lệnh nhập kho vật chứng số 75/LNK-ĐTTH ngày 29/7/2022 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 11).
Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; các điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo phải chịu là 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).
Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Nơi nhận:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
- TAND - VKSND TPHCM;
(Đã ký)
- Sở Tư pháp TPHCM;
- PC 27 - CA TPHCM;
- VKSND Q.11;
- Công an Q.11;
- Chi cục THADS Q.11;
- Những người tham gia tố tụng;
Nguyễn Thanh Phúc
- Lưu hồ sơ vụ án. TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
BIÊN BẢN NGHỊ ÁN
Vào hồi 09 giờ 00 phút, ngày 13 tháng 12 năm 2022.
Tại: Trụ sở Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh.
Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Phúc.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Phương Tín;
Ông Nguyễn Minh Phương.
Tiến hành nghị án vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 86/2022/TLST-HS ngày 27 tháng 10 năm 2022, đối với:
Bị cáo Dương Ngọc P (Dương Thị P); sinh năm: 1972, tại Thành phố Hồ
Chí Minh;
Căn cứ Điều 299 và Điều 326 của Bộ luật tố tụng hình sự;
Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH
CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƢ SAU:
1. Về điều luật áp dụng:
Căn cứ vào Điều 50; khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Kết quả biểu quyết: 3/3 thành viên Hội đồng xét xử biểu quyết thống nhất.
2. Về tội danh:
Tuyên bố bị cáo Dương Ngọc P (Dương Thị P) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Kết quả biểu quyết: 3/3 thành viên Hội đồng xét xử biểu quyết thống nhất.
3. Về hình phạt:
Xử phạt bị cáo Dương Ngọc P (Dương Thị P) 02 (hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 23/7/2022.
Kết quả biểu quyết: 3/3 thành viên Hội đồng xét xử biểu quyết thống nhất.
4. Về xử lý vật chứng:
Căn cứ vào Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 46, Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017),
Trả lại cho bị cáo Dương Ngọc P (Dương Thị P): 01 (một) máy điện thoại di động hiệu Nokia cũ màu trắng; 01 (một) máy điện thoại di động hiệu ASUS màu đỏ đen.
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) biển kiểm soát xe máy mang số: 93H7-7996; 01 (một) áo khoác vải dù màu đỏ lưng áo in chữ BEST EXPRESS màu trắng; 01 (một) áo thun nữ ngắn tay màu trắng phía trước áo in dòng chữ HOPE màu đen; 01 (một) quần thun dài màu đen; 01 (một) nón bảo hiểm màu xanh có in chữ BAEMIN màu trắng.
Thông báo trong thời hạn 12 tháng để chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp (nếu có) đến nhận đối với 01 xe môtô hiệu Honda Dream màu nâu, số khung: Không có; số máy: LC150FMG-02080650; quá thời hạn trên kể từ ngày Chi cục Thi hành án dân sự Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh tiến hành thông báo mà không có chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp liên hệ nhận thì tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước.
(Theo Lệnh nhập kho vật chứng số 75/LNK-ĐTTH ngày 29/7/2022 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 11).
Kết quả biểu quyết: 3/3 thành viên Hội đồng xét xử biểu quyết thống nhất.
5. Về án phí:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; các điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo phải chịu là 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).
Kết quả biểu quyết: 3/3 thành viên Hội đồng xét xử biểu quyết thống nhất.
6. Về quyền kháng cáo:
Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Kết quả biểu quyết: 3/3 thành viên Hội đồng xét xử biểu quyết thống nhất.
Nghị án kết thúc vào hồi 09 giờ 15 phút, ngày 13 tháng 12 năm 2022.
Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả các thành viên Hội đồng xét xử cùng nghe và ký tên.
Hội thẩm nhân dân
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
Nguyễn Thanh Phúc TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
–––––––––––––––
–––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––
Số: 81/2022/HSST-QĐTG
Quận 11, ngày 13 tháng 12 năm 2022
QUYẾT ĐỊNH TẠM GIAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Phúc.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Trần Phương Tín;
- Ông Nguyễn Minh Phương.
Căn cứ các điều 109, 113, 119 và 329 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ Biên bản nghị án ngày 13 tháng 12 năm 2022 của Hội đồng xét xử sơ thẩm;
Xét thấy cần thiết tiếp tục tạm giam bị cáo để bảo đảm cho việc thi hành án,
QUYẾT ĐỊNH:
Điều 1
Tạm giam bị cáo: Dƣơng Ngọc P (Dương Thị P), sinh năm 1972; nơi sinh: Thành phố Hồ Chí Minh; hộ khẩu thường trú: 103/18 đường Lò Siêu, Phường 16, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: Không có nơi cư trú nhất định.
Bị Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt 02 (hai) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
Theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017).
Thời hạn tạm giam là 45 ngày (bốn mươi lăm ngày), kể từ ngày tuyên án.
Điều 2
Nhà tạm giữ Công an Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh có trách nhiệm thi hành Quyết định này.
| Nơi nhận: - VKSND Q.11; - Nhà tạm giữ CAQ11; - - Bị cáo; - - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thanh Phúc |