- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hồng Vphạm tội “Trộm cắp tài sản”
- Căn cứ chính? Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN T THÀNH PHỐ H | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 90/2022/HS-ST Ngày 10/8/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN T, THÀNH PHỐ H
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đào Đức Cần Các Hội thẩm nhân dân: Ông Tạ Ngọc Cư
Bà Nguyễn Thị Chung
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Tuyết là thư ký Tòa án nhân dân quận T -Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận T, thành phố H tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Tiến Viết - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận T, thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 87/2022/TLST - HS ngày 28 tháng 6 năm 2022 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 98/2022/QĐ- ST ngày 30 tháng 7 năm 2022 đối với bị cáo:
Họ và tên : Nguyễn Hồng Vũ, sinh năm 1958. ĐKHK: Số 63 Hàng Mã, phường Hàng Mã, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc : Kinh. Tôn giáo : Không. Trình độ học vấn: (Tại phiên tòa bị cáo khai không đi học). Nghề nghiệp: Không. Con ông : Nguyễn Trọng Độ (Đã chết). Con bà: Nguyễn Thị Sửu (Đã chết). Danh bản chỉ bản số 339 lập ngày 16/12/2021 tại công an quận T, thành phố Hà Nội.
Nhân thân:
Tiền án : 08 tiền án trong đó có 07 tiền án đã được xóa án tích còn 01 tiền án chưa được xóa án tích.
- Ngày 21/12/1977, Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm xử phạt 01 năm tù về tội Trộm cắp tài sản của công dân (đã được xóa án tích);
- Ngày 26/07/1985, Tòa án nhân dân quận Ba Đình phạt 60 tháng tù về tội Cướp và Trộm cắp tài sản của công dân (đã được xóa án tích);
- Ngày 20/07/1991, Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm xử phạt 24 tháng tù về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản công dân (đã được xóa án tích);
- Ngày 17/11/1993, Tòa án nhân dân thành phố Hxử phạt 13 năm tù về tội Cướp tài sản của công dân (Bản án hình sự phúc thẩm số 584 ngày 17/05/1994 của Tòa án nhân dân tối cao tại Hxử y án – đã được xóa án tích);
- Ngày 02/11/1999, Tòa án nhân dân huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 36 tháng tù về tội Cố ý gây thương tích tổng hợp hình phạt với bản án ngày 17/11/1993 thời gian chưa thụ hình của bản án trước là 06 năm 05 tháng 12 ngày, xử phạt 09 năm 05 tháng 12 ngày về tội cố ý gây thương tích theo bản án số 30 (chưa được xóa án tích theo biên bản xác minh ngày 30/3/2022 của chi cục thi hành án dân sự quận Hoàn Kiếm xác định Nguyễn Hồng V chưa nộp số tiền bồi thường là 601.000 đồng theo Quyết định thi hành án số 556 ngày 10/12/1999);
- Ngày 13/12/2011, Tòa án nhân dân quận H xử phạt 10 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (đã được xóa án tích);
- Ngày 30/11/2012, Tòa án nhân dân quận H xử phạt 36 tháng tù về tội Đe dọa giết người (đã được xóa án tích);
- Ngày 21/02/2017, Tòa án nhân dân thành phố H xử phúc thẩm phạt 30 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản – ra trại ngày 25/02/2019 (đã xóa án tích).
Tiền sự : 08 tiền sự đã hết thời hiệu
- Năm 1969, Công an quận H xử phạt hành chính về hành vi Cướp giật hoặc công nhiên chiếm đoạt tài sản;
- Ngày 26/08/1970, Công an quận H xử phạt hành chính về hành vi Trộm cắp tài sản của công dân;
- Ngày 19/09/1973, Công an quận H, thành phố H xử phạt hành chính về hành vi Trộm cắp tài sản của công dân;
- Năm 1977, Công an quận H xử phạt hành chính về hành vi Đánh bạc, tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc;
- Năm 1980, UBND thành phố H ra quyết định về việc tập trung cải tạo 03 năm về tội phạm hình sự theo quyết định số 448;
- Năm 2010, Công an phường T, quận T xử phạt hành chính về hành vi Trộm cắp tài sản;
- Năm 2016, Công an quận H xử phạt hành chính về hành vi Trộm cắp tài sản;
- Ngày 27/11/2019, Tòa án nhân dân quận T ra quyết định áp dụng biện pháp hành chính đứa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Bắt ngày 09/12/2021
( Có mặt tại phiên Tòa)
- Người bị hại: Chị Nguyễn Hoài P , sinh năm 1986.
HKTT : Số 5 ngõ 130 An Dương, phường Y, quận T, Thành phố H ( Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Với mục đích đi lang thang xem có nhà nào sơ hở sẽ trộm cắp tài sản, sáng ngày 09/12/2021, Nguyễn Hồng V đi đến trước cửa nhà số 9 phố An Dương, phường Yên Phụ, quận T, thành phố Hà Nội, V phát hiện chị Nguyễn Hoài P (Sinh năm 1986 – Trú tại Số 5 phố An Dương, phường Yên Phụ, quận T, thành phố Hà Nội) đang dắt máy xe từ trên vỉa hè xuống lòng đường. Quan sát thấy tại túi áo khoác bên trái của chị P có để một chiếc điện thoại di động Iphone 6s màu hồng vàng, Vđi đến vị trí chị P đang đứng và dùng tay trái lấy chiếc điện thoại di động đang để tại túi áo của chị P . Sau khi lấy được điện thoại Vcất chiếc điện thoại vào túi áo khoác bên phải của mình rồi đi bộ sang đường. Lúc này, anh Dương Hoài Nam (Sinh năm 1983 – Chỗ ở 280A/8 An Dương, phường Yên Phụ, quận T, thành phố Hà Nội) và Phạm Đình Bình (sinh năm 1989 – Chỗ ở Số 14 ngõ 172 Âu Cơ, phường Tứ Liên, quận T, thành phố Hà Nội) là nhân viên công ty điện lực T đang làm việc tại khu vực phố An Dương nhìn thấy hành vi của Vnên đã bắt giữ và báo cho Công an phường Yên Phụ giải quyết.
Cơ quan Công an thu giữ của Nguyễn Hồng V:
- 01 ( một ) điện thoại di dộng nhãn hiệu Iphone 6S màu hồng vàng, bản 64Gb, Imei 358570070167697;
- 01 ( một ) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu;
- 01 ( một ) điện thoại di động nhãn hiệu Engrgizer màu đen đã qua sử dụng không kiểm tra Imei;
- 01 ( một ) đồng hồ đeo tay có thân đồng hồ và dây đeo làm bằng kim loại màu bạc;
- Tiền mặt : 450.000 đồng ( bốn trăm năm mươi nghìn đồng).
Cùng ngày 09/12/2021, chị Nguyễn Hoài P có đơn trình báo đến Công an phường Yên Phụ về việc chị bị mất trộm chiếc điện thoại di động.
Tang vật vụ án là chiếc điện thoại Iphone 6s màu hồng vàng có số Imei 358570070167697 đã được thu giữ. Tại Kết luận định giá tài sản số 288/KL-HĐĐG của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận T kết luận, Chiếc điện thoại di động Iphone 6S có giá trị là 2.700.000 đồng (Hai triệu bảy trăm nghìn đồng). Cơ quan điều tra đã trao trả chiếc điện thoại di động cho chị Nguyễn Hoài P . Chị P đã nhận tài sản và không yêu cầu bồi thường gì.
Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Hồng Vthành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Vkhai mục đích trộm cắp để bán lấy tiền tiêu sài cho bản thân.
Bản cáo trạng số 84/CT - VKS ngày 24/6/2022 của Viện kiểm sát nhân dân quận T quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Hồng Vvề tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Căn cứ vào nhân thân cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận T đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm g khoản 2 điều 173; Điều 38; Điểm s khoản 1 điều 51; Điểm h khoản 1 điều 52 Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo từ 18 đến 24 tháng tù.
Vật chứng vụ án: Tịch thu sung công 01 điện thoại Nokia màu đen đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động màu đen, trên màn hình điện thoại ghi chữ “ Energiner” ; 01 đồng hồ đeo tay có thân đồng hồ và dây đeo bằng kim loại màu bạc; Tạm giữ số tiền 450.000đ để đảm bảo thị hành án.
Dân sự: Không.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Áp dụng Nghị quyết số 326/2016 của UBTV Quốc Hội về mức thu, miễn giảm thu nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo phải chịu án phí theo quy định.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo nhận thấy hành vi của mình là sai trái, vi phạm pháp luật, rất hối lỗi và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra – Công an quận T; Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra,truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
2. Về nội dung: Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại và các tài liệu chứng cứ khác, đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 08 giờ 45 ngày 09/12/2021, tại trước số nhà 09 An Dương, phường Yên Phụ, quận T, thành phố Hà Nội, Nguyễn Hồng Vcó hành vi trộm cắp chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s màu hồng vàng có giá trị 2.700.000 đồng (Hai triệu bảy trăm nghìn đồng) của chị Nguyễn Hoài P thì bị quần chúng nhân dân và chị P bắt quả tang. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Tội danh và hình phạt được quy định tại tại điều 173 Bộ luật hình sự.
Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận T truy tố hành vi phạm tội của bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm, gây mất trật tự trị an cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật hình sự bảo vệ. Bị cáo không tự tìm việc làm có thu nhập cho bản thân mà chủ động thực hiện hành vi trộm cắp để lấy tiền tiêu sài cá nhân. Nhân thân bị cáo xấu và đã bị xét xử về tội cùng loại nhưng không lấy đó là bài học cho bản thân mà vẫn còn vi phạm, bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý. Bản án số 30/HSST ngày 02/11/1999 của TAND huyện Yên Định chưa được xóa án tích, vì vậy lần phạm tội này của bị cáo là tái phạm. Do vậy, cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội và nhân thân bị cáo cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo.Tuy nhiên HĐXX cũng xem xét thái độ khai báo thành khẩn của bị cáo tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà để giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
Tình tiết tăng nặng: Bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng là tái phạm theo điểm h khoản 1 điều 52 của Bộ luật hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai nhận tội; Đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, điều 51 Bộ luật hình sự.
Về dân sự: Không.
Vật chứng vụ án: Tịch thu sung công 01 điện thoại Nokia màu đen đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động màu đen, trên màn hình điện thoại ghi chữ “ Energiner”; 01 đồng hồ đeo tay có thân đồng hồ và dây đeo bằng kim loại màu bạc; tạm giữ số tiền 450.000đ của bị cáo để đảm bảo thi hành án.
Bị cáo phải nộp án phí hình sự.
Bị cáo, người bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hồng Vphạm tội “Trộm cắp tài sản”
Áp dụng khoản 1 điều 173; Điều 38; Điểm s khoản 1 điều 51; Điểm h khoản 1 điều 52 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Hồng V 16 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 09/12/2021.
Về dân sự: Không.
Vật chứng vụ án: Tịch thu sung công 01 điện thoại Nokia màu đen đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động màu đen, trên màn hình điện thoại ghi chữ “ Energiner”; 01 đồng hồ đeo tay có thân đồng hồ và dây đeo bằng kim loại màu bạc; Tạm giữ số tiền 450.000đ của bị cáo để đảm bảo thi hành án.
Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 29/3/2022, và lệnh thanh toán ngày 02/3/2022 giữa cơ quan Cảnh sát Điều tra – Công an quận T, với Chi cục Thi hành án dân sự và kho bạc quận T.
Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí HSST.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.
| Nơi nhận: -Những người tham gia tố tụng - VKS ND quận T - Công an quận T - Chi cục THA dân sự quận T -Lưu HS | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Đào Đức Cần |