vanban.org

Bản án 90/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 25/11/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

C n cứ khoản 1 Điều 173, khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự.

Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; Điểm b, s, khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51; Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Hoàng Huy H 12 tháng tù. Được trừ thời gian tạm giữ tạm giam 03 tháng (từ ngày 11/5/2022 đến ngày 08/8/2022) còn phải chấp hành 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Huy H và đồng phạm trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? C n cứ khoản 1 Điều 173, khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN YÊN ĐỊNH
TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 90/2022/HS-ST
Ngày: 25-11-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN ĐỊNH, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Hữu Thắng.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Minh Chiểu

2. Ông Trịnh Ngọc Thanh

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê V n Thắng - Thư k Tòa án, Tòa án nh n d n huyện Yên Định, t nh Thanh Hóa.

- i di n i n ki m sát nhân dân hu n ên nh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị T n – Kiểm sát viên.

Trong ngày 25 tháng 11 n m 2022, tại Trụ sở Tòa án nh n d n huyện Yên Định, t nh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm c ng khai vụ án hình sự thụ l số: 79/2022/TLST-HS ngày 25 tháng 10 n m 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 85/2022/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 11 n m 2022 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Hoàng Huy H, tên gọi khác: không; sinh ngày 06/01/1995, tại xã P, huyện Thiệu Hóa, t nh Thanh Hóa. Nơi cư trú: Th n V, xã P, huyện Thiệu Hóa, t nh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; D n tộc: Kinh; Giới tính: Nam; T n giáo: Kh ng; Quốc tịch: Việt Nam; Trình độ học vấn: 06/12; Con ng Hoàng Huy T (Đã chết); con bà Lê Thị Ng, sinh n m 1963; Gia đình bị cáo có 04 anh em, bị cáo là con thứ 4; bị cáo có vợ là Hoàng Thị A, sinh n m 1994; Có 03 con, con lớn nhất sinh n m 2014, con nhỏ nhất sinh n m 2017.

Nh n th n: Ngày 23/9/2017 bị C ng an huyện Thiệu Hóa xử phạt vi phạm hành chính 1.000.000đ về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

Tại bản án số 08/2019/HSST ngày 04/4/2019 Tòa ánh nh n d n huyện Thiệu Hóa, t nh Thanh Hóa xử phạt 09 tháng tù về tội cố g y thương tích. Đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 14/12/2019.

Tiền án, Tiền sự: Kh ng. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/5/2022 đến ngày 08/8/2022 được thay thế bằng biện pháp ng n chặn bảo lĩnh. Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.

2. Họ và tên: Mạnh Tiến D, tên gọi khác: kh ng; sinh ngày 16/9/2003, tại thị trấn Q, huyện Yên Định, t nh Thanh Hóa. Nơi cư trú: Khu 1, thị trấn Q, huyện Yên Định, t nh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; D n tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Kh ng; Quốc tịch: Việt Nam; Trình độ học vấn: 9/12; con ng Mạnh Tiến C, sinh n m 1982; con bà Nguyễn Thị B, sinh n m 1980; Gia đình bị cáo có 02 anh em, bị cáo là con đầu; bị cáo chưa có vợ con.

Tiền án, tiền sự: Kh ng. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/5/2022 đến ngày 08/8/2022 được thay thế bằng biện pháp ng n chặn bảo lĩnh. Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.

3. Họ và tên: Lê Thị M, tên gọi khác: kh ng; sinh ngày 01/02/1993, tại xã Cát T n, huyện Như Xu n, t nh Thanh Hóa.

Nơi cư trú: Thôn X, xã Đ, huyện Yên Định, t nh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Kinh doanh; D n tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; T n giáo: Kh ng; Quốc tịch: Việt Nam; Trình độ học vấn: 12/12; con ng Lê V n E, sinh n m 1964; con bà Bùi Thị G, sinh n m 1962; Gia đình bị cáo có 04 anh em, bị cáo là con thứ hai; bị cáo có chồng là Nguyễn Danh I, sinh n m 1988; Có 02 con, con lớn nhất sinh n m 2015, con nhỏ nhất sinh n m 2017.

Tiền án, tiền sự: Kh ng. Bị cáo bị tạm giam từ ngày 08/8/2022 đến ngày 25/8/2022 được thay thế bằng biện pháp ng n chặn bảo lĩnh. Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.

- Người bị hại:

1. Chị Mai Thị H1, sinh n m 1972. (vắng mặt)

Trú tại: Th n Z, xã ĐB, huyện Yên Định, t nh Thanh Hóa.

2. Anh Cao V n D1, sinh n m 1989. (vắng mặt)

Trú tại: Th n L, xã ĐT, huyện Yên Định, t nh Thanh Hóa.

3. Anh Nguyễn Xu n H2, sinh n m 1979. (vắng mặt)

Trú tại: Th n Z, xã P, huyện Đ ng Sơn, t nh Thanh Hóa

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Anh Nguyễn Danh I, sinh n m 1988. (vắng mặt)

Trú tại: Th n X, xã Đ, huyện Yên Định, t nh Thanh Hóa.

2. Chị Nguyễn Thị B, sinh n m 1980. (có mặt)

Địa ch : Khu 1, thị trấn Q, huyện Yên Định, t nh Thanh Hóa.

- Người làm chứng: Anh Nguyễn V n N, sinh n m 1985. (vắng mặt)

Trú tại: Th n ĐT, xã ĐB, huyện Yên Định, t nh Thanh Hóa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 23 ngày 04/5/2022, Mạnh Tiến D đi xe m t Wave @ màu xanh đen, kh ng lắp biển kiểm soát đến nhà Hoàng Huy H ở huyện Thiệu Hóa chơi. Đến khoảng 01 giờ ngày 05/5/2022 do cần tiền tiêu xài cá nh n nên cả hai rủ nhau cùng đi tìm tài sản trộm cắp. H chở D bằng xe của D đi theo Quốc lộ 45 lên địa bàn huyện Yên Định, trên đường đi quan sát xem có nhà nào sơ hở để trộm cắp tài sản. Khi đi đến địa phận th n Ấp Trú, xã Định Bình thấy phía bên trái đường Quốc lộ 45 cách lề đường khoảng 5m - 6m có 01 chiếc xe kéo tự chế của chị Mai Thị H1. H điều khiển xe đi sang đường đứng ở ngoài đường và nói với D “Em v lấy cái xe kia đi” D đồng và nói “Anh đứng ngoài để em v lấy cho”. D đến vị trí để xe kéo, lấy xe rồi kéo ra đường quốc lộ 45. H điều khiển xe m t chở D ngồi sau kéo theo xe kéo đi về hướng cầu Si, xã Định Bình, sau đó rẽ vào đường tránh thị trấn Quán Lào (đường đang còn thi c ng). Khi đi đến khu vực c y x ng Định Tường ở khu phố Thành Phú, thị trấn Quán Lào, D bảo H dừng lại để tiếp tục tìm tài sản trộm cắp. Cả hai đi bộ vào khu vực phía bên phải c y x ng thấy có nhiều tấm cốt pha của anh Cao V n D1, sinh n m 1989 ở th n LT, xã ĐT. Lúc này D hỏi H “anh ơi có làm cái đống ni không?”. H trả lời “ừ, làm đi”. H và D kéo xe kéo vào khu vực có đống cốt pha, lấy được 17 khu n đổ bê t ng hình chữ V (tổng khối lượng là 100 kg) và bốn tấm cốt pha kích thước mỗi tấm 3,055m x 0,18m x 0,33m bê lên xe kéo rồi đẩy xe lại vị trí xe m t . H điều khiển xe m t còn D ngồi phía sau kéo theo xe kéo đi về hướng xã Đ. Khi đi đến địa phận xã Đ thì D điều khiển xe còn H ngồi sau kéo xe kéo đi đến nhà Lê Thị M làm nghề thu mua phế liệu để bán số tài sản trộm cắp. Khi đến nhà M khoảng 02 giờ sáng, D gọi M mở cửa H và D mang 04 tấm cốt pha và 17 khu n đổ bê t ng hình chữ V và xe kéo vào trong s n. M đóng chốt cửa lại để giao dịch mua bán các tài sản trên với H và D. M hỏi về nguồn gốc tài sản thì D trả lời lấy ở c y x ng. M cân các tài sản trên và tính tiền với giá 10.000 đồng/kg rồi thanh toán số tiền 1.550.000 đồng cho D cầm tiền. Sau đó cả hai tiếp tục đi xe m t quay lại khu vực c y x ng trộm cắp 02 tấm cốt pha kích thước mỗi tấm 3,055 m x 0,18 m x 0,33 m; 01 máng đổ bê t ng có khối lượng 55kg và 02 tấm kê giàn giáo mỗi tấm dài 03 m, rộng 0,25m, cao 0,04m. Cả hai chở bằng xe m t quay lại nhà Lê Thị M bán số tài sản trộm lần này cho Lê Thị M được số tiền 1.130.000 đồng.

Cả hai tiếp tục quay lại khu vực c y x ng thấy cuộn d y cáp điện loại ACSR 150/119, đường kính d y 1,5 cm, dài 183 m, khối lượng 101 kg của anh Nguyễn Xuân H2 ở xã ĐP, huyện Đ ng Sơn đang để lại đó. Cả hai vào lấy cuộn d y điện đem đến bán cho M nhưng lần này M không mua và nói “Sợ cái này là đồ của Nhà nước”. Sau đó, H điều khiển xe chở Mạnh m cuộn d y cáp điện vứt ở khu vực bờ ruộng gần C ng ty Jasan thuộc địa phận th n Vực Phác, xã Đ rồi cùng đi về nhà H chia nhau số tiền vừa trộm cắp được. Số tiền này cả hai đã chi tiêu cá nh n hết.

Ngày 11/5/2022 Hoàng Huy H và Mạnh Tiến D đã đến c ng an huyện Yên Định đầu thú khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội.

Ngày 11/5/2022, Lê Thị M đã giao nộp cho Cơ quan điều tra toàn bộ tài sản đã mua của Hoàng Huy H và Mạnh Tiến D, trong đó chiếc xe kéo đã bị cắt thành nhiều phần.

Kết quả định giá tài sản xác định 17 Khu n đổ bê t ng hình chữ V trị giá 1.100.000 đồng; 06 tấm cốt pha bằng sắt trị giá 913.000 đồng; 02 tấm kê giàn giáo trị giá 330.000 đồng; 01 máng đổ bê t ng trị giá 605.000 đồng; 01 xe kéo đã bị cắt nhỏ thành nhiều phần trị giá 1.025.000 đồng; 01 cuộn d y cáp điện cuộn d y cáp điện thoại ACSR 150/119, đường kính d y 1,5 cm, dài 183 m, khối lượng 101 kg trị giá 8.888.000đ. Tổng giá trị tài sản H và D trộm cắp là 12.861.000 đồng.

Xác minh về tài sản, thu thập các bị cáo Hoàng Huy H và Mạnh Tiến D là lao động tự do kh ng có tài sản và kh ng có thu nhập ổn định, Lê Thị M thu nhập mỗi tháng là 3.000.000 đồng/tháng.

Về vật chứng vụ án: Quá trình điều tra, Lê Thị M đã tự nguyện giao nộp 17 Khu n đổ bê t ng hình chữ V; 06 tấm cốt pha; 02 tấm kê giàn giáo; 01 máng đổ bê t ng và 01 xe kéo (xe kéo đã bị cắt nhỏ thành nhiều phần); Mạnh Tiến D đã tự nguyện giao nộp 01 xe m t nhãn hiệu Honda Wave màu xanh đen kh ng biển kiểm soát có số khung RLHJA 3924MY217632, số máy JA 39E 2336567, đã qua sử dụng.

Kết quả điều tra xác định chiếc xe m t trên thuộc quyền sở hữu của chị Nguyễn Thị B (là mẹ ruột của D). Chị B kh ng biết D dùng để đi trộm cắp nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị B; Các bộ phận của chiếc xe kéo trả lại cho chị Mai Thị H1; 17 khu n đổ bê t ng; 06 tấm cốt pha; 02 tấm kê giàn giáo; 01 máng đổ bê t ng đã trả lại cho anh Cao V n D1. Đối với cuộn d y cáp điện Cơ quan điều tra đã truy tìm nhưng kh ng thu hồi được.

Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, truy tố các bị hại Cao V n D1; Mai Thị H1 và Nguyễn Xu n H2 đã nhận lại tài sản và được bồi thường toàn bộ thiệt hại, kh ng yêu cầu bồi thường gì thêm, Bị cáo Lê Thị M kh ng yêu cầu H và D trả lại số tiền đã mua các tài sản mà H và D đã trộm cắp.

Tại bản cáo trạng số 82/CT-VKSYĐ ngày 23/10/2022 của Viện kiểm sát nh n d n huyện Yên Định đã truy tố các bị cáo Hoàng Huy H và Mạnh Tiến D về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự; Truy tố bị cáo Lê Thị M về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội tội mà có” theo quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm: Các bị cáo Hoàng Huy H, Mạnh Tiến D và Lê Thị M đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố và xin giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát nh n d n huyện Yên Định luận tội giữ nguyên quyết định truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Hoàng Huy H và Mạnh Tiến D phạm tội “Trộm cắp tài sản”; Bị cáo Lê Thị M phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội tội mà có”

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Hoàng Huy H từ 12 tháng tù đến 15 tháng tù. Thời gian bị cáo bị tạm giữ, tạm giam được trừ vào thời gian chấp hành án

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Mạnh Tiến D từ 09 tháng tù đến 12 tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 18 tháng đến 24 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 323, điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Thị M từ 06 tháng tù đến 09 tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 12 tháng đến 18 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Mạnh Tiến D cho UBND thị trấn Quán Lào, huyện Yên Định, t nh Thanh Hóa; Giao bị cáo Lê Thị M, cho UBND xã Đ, huyện Yên Định, t nh Thanh Hóa để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo.

Về vật chứng: Đã được xử l trong quá trình điều tra, nên kh ng xem xét.

Về trách nhiệm d n sự: Kh ng xem xét

Về án phí: Các bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI Đ NG XÉT X :

Trên cơ sở nội dung vụ án, c n cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Nhận định về hành vi, quyết định tố tụng:

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo kh ng có kiến hoặc kH nại về hành vi của người tiến hành tố tụng và quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng. Như vậy, hành vi của Điều tra viên, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra C ng an huyện Yên Định; hành vi của Kiểm sát viên, quyết định tố tụng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Định, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

[2] Nhận định về hành vi phạm tội của bị cáo:

Th ng qua tranh tụng tại phiên toà, các bị cáo Hoàng Huy H, Mạnh Tiến D và Lê Thị M hoàn toàn thừa nhận: Khoảng 01 giờ ngày 05/5/2022 Hoàng Huy H và Mạnh Tiến D đã trộm cắp 01 xe kéo tự chế của bà Mai Thị M ở th n Ấp Trú, xã Định Bình sau đó tiếp tục trộm cắp 17 kh n đổ bê t ng, 06 tấm cốt pha, 02 tấm kê giàn giáo, 01 máng đổ bê t ng của anh Cao V n D và 01 cuộn d y cáp trần của anh Nguyễn Xu n Hoàn. Tổng giá trị tài sản trộm cắp là 12.861.000 đồng rồi mang bán cho Lê Thị M. Mặc dù, biết số tài sản trên là do H và D trộm cắp M vẫn đồng mua với số tiền 2.680.000 đồng.

Đối chiếu với lời khai của bị cáo trong hồ sơ vụ án, lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án thấy hoàn toàn phù hợp. Như vậy, HĐXX xét thấy có đủ c n cứ chứng minh hành vi trộm cắp tài sản của các bị cáo Hoàng Huy H và Mạnh Tiến D. Hành vi tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có của bị cáo Lê Thị M. Như vậy, tội danh chính thức đã được thành lập theo khoản 1 Điều 173 và khoản 1 Điều 323 BLHS đối với các bị cáo. VKSND huyện Yên Định truy tố các bị cáo theo tội danh trên, đề nghị HĐXX áp dụng các điều luật là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Đánh giá tính chất mức độ nguy hiểm của tội phạm và quan hệ pháp luật x m phạm:

Tính chất của vụ án là ít nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, x m phạm trực tiếp quyền sở hữu tài sản của cá nhân, làm mất trật tự trị an khu vực. Bị cáo lợi dụng sự sơ hở, mất cảnh giác của chủ sở hữu để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Vì vậy, cần xử l nghiêm khắc nhằm giáo dục bị cáo và r n đe, giáo dục, phòng ngừa chung.

Đánh giá tính chất đồng phạm trong vụ án là đồng phạm giản đơn. Bị cáo H và bị cáo D cùng bàn bạc và cùng thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, nên có vai trò ngang nhau trong vụ án.

[4] Về tình tiết t ng nặng, giảm nhẹ, và hình phạt:

Các bị cáo kh ng phải chịu tình tiết t ng nặng trách nhiệm hình sự. Các bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ như sau:

Bị cáo H được hưởng những tình tiết giảm nhẹ là: Tự nguyện bồi thường thiệt hại, người phạm tội thành khẩn khai báo, theo điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Được hưởng tình tiết đầu thú và người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Bị cáo D được hưởng tình tiết giảm nhẹ là: Tự nguyện bồi thường thiệt hại, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thành khẩn khai báo, theo điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Được hưởng tình tiết đầu thú và người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Bị cáo M được hưởng tình tiết giảm nhẹ là: Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thành khẩn khai báo, theo điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Được hưởng tình tiết người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Trên cơ sở đánh giá tính chất vụ án, các tình tiết giảm nhẹ, nh n th n của các bị cáo, HĐXX xét thấy:

Đối với bị cáo H có nhiều tình tiết giảm nhẹ, kh ng có tình tiết t ng nặng, tuy nhiên bị cáo có nh n th n xấu, đã từng bị xử l hành chính về sử dụng ma túy, đã từng bị xét xử về hành vi cố g y thương tích. Bị cáo kh ng lấy đó làm bài học để tu dưỡng, rèn luyện bản th n mà còn tiếp tục phạm tội. Điều đó thể hiện bị cáo không có thức tu dưỡng, rèn luyện bản th n, coi thường pháp luật. Vì vậy, cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc, đưa bị cáo vào m i trường cải tạo theo quy chế trại giam. Mục đích để trừng trị và giáo dục bị cáo thức chấp hành pháp luật, đồng thời r n đe, phòng ngừa chung. Thời gian bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/5/2022 đến ngày 08/8/2022 là 03 tháng được trừ vào thời gian chấp hành án.

Đối với các bị cáo D và M có nhiều tình tiết giảm nhẹ, kh ng có tình tiết t ng nặng, có nh n th n tốt, chưa có tiền án tiền sự, có nơi cư trú ổn định, rõ ràng, cần áp dụng hình phạt tù cho bị cáo hưởng án treo, cũng đủ để r n đe giáo dục, bị cáo trở thành người c ng d n có ích cho xã hội.

[5] Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo đều kh ng có thu nhập gì đáng kể, nên kh ng áp dụng hình phạt bổ sung.

[6] Về trách nhiệm d n sự: Tài sản đã trả lại và bồi thường toàn bộ thiệt hại cho người bị hại. Các bị hại kh ng yêu cầu gì thêm nên HĐXX kh ng xem xét.

[7] Về xử l vật chứng: Các vật chứng là tài sản trộm cắp đã được trả lại cho bị hại nên kh ng xem xét.

[8] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

C n cứ khoản 1 Điều 173, khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự. Tuyên bố các bị cáo Hoàng Huy H và Mạnh Tiến D phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo Lê Thị M phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.

Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; Điểm b, s, khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51; Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Hoàng Huy H 12 tháng tù. Được trừ thời gian tạm giữ tạm giam 03 tháng (từ ngày 11/5/2022 đến ngày 08/8/2022) còn phải chấp hành 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; Điểm b, s, i khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 58 và khoản 1, 2 Điều 65 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Mạnh Tiến D 09 (chín) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 18 (Mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Áp dụng: khoản 1 Điều 323, điểm i, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, Điều 38 và khoản 1, 2 Điều 65 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Lê Thị M 6 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 12 (mười hai) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Mạnh Tiến D cho UBND thị trấn Quán Lào, huyện Yên Định, t nh Thanh Hóa; Giao bị cáo Lê Thị M cho UBND xã Đ, huyện Yên Định, t nh Thanh Hóa để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Về trách nhiệm dân sự: Tài sản đã trả lại và bồi thường toàn bộ thiệt hại cho người bị hại. Các bị hại kh ng yêu cầu gì thêm nên HĐXX kh ng xem xét.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Hoàng Huy H, Mạnh Tiến D và Lê Thị M mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền háng cáo b n án: Áp dụng khoản 1 Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tuyên quyền kháng cáo bản án cho các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Đối với người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt thời hạn kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết c ng khai.

Cỡ chữ