- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị Lê T - phạm tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (điều 191 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Nguyễn Thị Lê Th;
- Căn cứ chính? Điều 191 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH PHƯỚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 90/2022/HS-PT Ngày: 08-12-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Nga
Các Thẩm phán:
Ông Bùi Văn Bình
Ông Phạm Tiến Hiệp
- Thư ký phiên tòa: Ông Hồ Phương Tình, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh
Bình Phước.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước tham gia phiên tòa:
Bà Đàm Thị Vang, Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 98/2022/HSPT ngày 12 tháng 10 năm 2022 đối với bị cáo Nguyễn Thị Lê Th.
Do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 57/2022/HSST ngày 16/8/2022 của Tòa án nhân dân huyện Bù Đốp, tỉnh Bình Phước.
Bị cáo có kháng cáo:
Nguyễn Thị Lê Th, sinh năm 1977; tên gọi khác: Không; tại Bình Phước; nơi cư trú: Ấp H, xã L, huyện N, tỉnh Bình Phước; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: 12/12; giới tính: Nữ; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn G (đã chết) và bà Lê Thị H, sinh năm: 1956; bị cáo có 01 người con sinh năm 1997; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 09/01/2022 đến ngày 18/01/2022 được tại ngoại; bị cáo có mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 18 giờ 00 phút ngày 09/01/2022, Công an huyện Bù Đốp phối hợp với Công an xã Phước Thiện tiến hành kiểm tra khu vực ấp L, xã Th, huyện Đ, tỉnh Bình Phước phát hiện bắt quả tang Nguyễn Thị Lê Th đang điều khiển xe ô tô tải hiệu HYUNDAI, loại PORTER, màu trắng, biển kiểm soát: 54S – 5370. Qua kiểm tra trên thùng xe có 07 bao tải màu xanh có chứa: 24 can thuốc diệt cỏ, màu xanh có kích thước 19,5cm x 12,5cm x 30cm, trên thân can nhựa có ghi chữ “5 Lít”, mặt trước của can có dán tờ giấy ghi chữ nước ngoài, có ghi chữ “NAD-GRASSANA”, 480SL”, “Glyphosate IPA...480”, mặt sau của can nhựa có dán tờ giấy ghi chữ nước ngoài. Tổng dung tích ghi theo thân can là 120 lít/24can; 20 chai thuốc diệt cỏ, màu xanh, có nắp chai màu đỏ, chiều cao của chai là 22cm, đường kính đáy chai là 09cm, đường kính nắp chai là 3,6cm, trên thân của chai nhựa có dán tờ giấy ghi chữ nước ngoài, có ghi chữ “PUNLEU PECH GREEN 48”, “Glyphosate IPA Salt 480 g/1 SL”, loại 01 lít/01 chai. Tổng dung tích là 20 lít/20 chai. Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, tạm giữ toàn bộ số thuốc nêu trên và 01 xe ô tô tải hiệu HYUNDAI, loại PORTER, màu trắng, biển kiểm soát: 54S - 5370; 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy, loại A31, màu đen.
Quá trình điều tra xác định: do có nhu cầu sử dụng thuốc diệt cỏ loại lưu dẫn, có chứa thành phần hoạt chất glyphosate, khoảng tháng 12/2021 Nguyễn Thị Lê Th đã đặt mua với một người đàn ông Campuchia tên S (không rõ nhân thân, lai lịch) 04 thùng thuốc diệt cỏ loại lưu dẫn, có thành phần hoạt chất glyphosate với giá 1.600.000 đồng/01 thùng, S đồng ý và hẹn Th ngày 09/01/2022 đến cổng nhà máy chế biến mủ Nha Bích thuộc ấp L, xã Th huyện Đ để nhận thuốc diệt cỏ. Khoảng 13 giờ ngày 09/01/2022 Th điều khiển xe ô tô tải hiệu Hyundai, loại Porter, màu trắng, biển số 54S-5370 đi từ nhà thuộc ấp H, xã L, huyện N đến khu vực cổng nhà máy chế biến mủ Nha Bích để nhận thuốc diệt cỏ. Tại đây, Th gặp 01 người thanh niên (không rõ nhân thân, lai lịch) là người giao hàng cho S đứng bên lề đường, bên cạnh có 07 bao tải màu xanh, bên trong có chứa 24 can thuốc diêt cỏ loại 5lít/01 can và 20 chai thuốc diệt cỏ loại 01 lít/01 chai. Th kiểm tra và thấy số lượng thuốc diệt cỏ nhiều hơn đã đặt, Th mua hết số thuốc diệt cỏ trên và trả cho người thanh niên giao hàng cho S số tiền 11.200.000 đồng. Sau đó Th chất 07 bao tải chứa thuốc diệt cỏ lên xe ô tô tải và nổ máy xe điều khiển chở về nhà. Khi Th điều khiển xe đi được khoảng 50m thì bị Tổ tuần tra phát hiện.
Bản Kết luận giám định số: 668/C09B ngày 08/3/2022 của Phân viện khoa học hình sự, Bộ công an tại Thành phố Hồ Chí Minh kết luận:
- Chất lỏng bên trong 24 can thuốc diệt cỏ màu xanh, nhãn hiệu “NAD-GRASSANA”, “480SL”, Glyphosate IPA 480, loại 05 lít được niêm phong gửi giám định có chứa thành phần Glyphosate, hàm lượng 400,7g/lít. Tổng thể tích là 120 lít.
- Chất lỏng bên trong 20 chai thuốc diệt cỏ màu xanh, nhãn hiệu “PUNLEU PECH GREEN 48”, Glyphosate IPA salt 480g/1 SL, loại 01 lít/chai được niêm phong gửi giám định có chứa thành phần Glyphosate, hàm lượng 395,1g/lít. Tổng thể tích 20 lít.
Glyphosate là thuốc diệt cỏ không chọn lọc, diệt cỏ và diệt cây trồng. Glyphosate thuộc nhóm độc I, gây độc với người và gia súc, có LD50 qua đường miệng đối với chuột: >2000mg/kg .
Theo quy định tại khoản 2 Điều 2 Thông tư số: 10/2020/TT-BNNPTNT ngày 09/9/2020 của Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn ban hành danh mục thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng, cấm sử dụng tại Việt Nam quy định: “các thuốc bảo vệ thực vật chứa hoạt chất Glyphosate không được sản xuất, nhập khẩu, chỉ được buôn bán, sử dụng đến ngày 30/6/2021.”
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 57/2022/HSST ngày 16/8/2022 của Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Bình Phước đã tuyên xử:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Lê Th phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”.
Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 191; Điều 50; Điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Lê Th 02 (hai) năm tù thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt đi thi hành án được trừ đi thời hạn tạm giữ tạm giam từ ngày 09/01/2022 đến ngày 18/01/2022.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 18/8/2022 bị cáo Nguyễn Thị Lê Th có đơn kháng cáo xin hưởng án treo.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Bản án sơ thẩm nhận định và xin Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận yêu cầu kháng cáo cho bị cáo.
Quan điểm giải quyết vụ án của Kiểm sát viên tại phiên tòa: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên Bản án sơ thẩm 57/2022/HSST ngày 16/8/2022 của Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Bình Phước về phần hình phạt đối với bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị Lê Th được thực hiện trong thời hạn luật định nên đủ điều kiện để Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước giải quyết vụ án theo thủ tục phúc thẩm.
. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như Bản án sơ thẩm đã nhận định. Hội đồng xét xử phúc thẩm xác định Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên bố bị cáo phạm tội “Vận chuyển hàng cấm” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 191 Bộ luật hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
. Xét kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: Tại cấp sơ thẩm bị cáo đã được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ như: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo 02 năm tù là mức thấp nhất của khung hình phạt. Sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo cung cấp thêm tài liệu thể hiện cha mẹ bị cáo là người có công với cách mạng nhưng xét thấy bị cáo vận chuyển hàng cấm với số lượng lớn và theo kết luận giám định thì hàm lượng chất độc hại rất cao. Vì vậy, xét thấy mức hình phạt mà Toà án cấp sơ thẩm áp dụng đối với bị cáo là đã phù hợp nên không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của bị cáo, cần giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 57/2022/HSST ngày 16/8/2022 của Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Bình Phước về phần hình phạt đối với bị cáo.
. Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước tại phiên tòa là phù hợp pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
. Án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
Không chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Nguyễn Thị Lê Th;
Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 57/2022/HSST ngày 16/8/2022 của Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Bình Phước về phần hình phạt đối với bị cáo;
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Lê Th phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”.
Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 191; Điều 50; Điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Lê Th 02 (hai) năm tù thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án được trừ đi thời hạn tạm giữ từ ngày 09/01/2022 đến ngày 18/01/2022.
Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Nguyễn Thị Lê Th phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Bình Phước; - TAND, VKSND huyện Bù Đốp; - Chi cục THADS huyện Bù Đốp; - Công an huyện Bù Đốp; - Bị cáo; - Cổng thông tin điện tử Tòa án; - Tổ nghiệp vụ; Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA Nguyễn Thị Nga (Đã ký) |