- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Minh Đ - phạm tội cướp tài sản (điều 168 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Lê Minh Đ và Lê Văn X, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số: 385/2021/HS-ST ngày 02 tháng 12 năm 2021 của Tòa án nhân dân thành phố A, tỉnh Bình Dương.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 168 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 90/2022/HS-PT Ngày 13-5-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Huỳnh Đức
Các Thẩm phán: Ông Lê Quân Vương
Ông Trương Văn Lộc
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Tường - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Dung - Kiểm sát viên.
Ngày 09 và ngày 13 tháng 5 năm 2022 tại Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 24/2022/TLPT-HS ngày 12 tháng 01 năm 2022 đối với các bị cáo Lê Minh Đ và Lê Văn X. Do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 385/2021/HS-ST ngày 02 tháng 12 năm 2021 của Tòa án nhân dân thành phố A, tỉnh Bình Dương.
- Bị cáo có kháng cáo:
1. Lê Minh Đ sinh năm 1989 tại tỉnh Cà Mau; nơi cư trú: ấp Phước Hòa (cũ là ấp Cái Sẵn Ngọn), xã B, huyện TB, tỉnh Cà Mau; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: không; trình độ văn hoá (học vấn): 01/12; nghề nghiệp: thợ hồ; con ông Lê Văn N và bà Trần Thị M; có vợ tên Hoàng Thị Mvà 01 người con; tiền án, tiền sự: không; bị bắt tạm giữ từ ngày 06/9/2020 đến ngày 07/9/2020; ngày 11/01/2021 bị bắt tạm giam lại cho đến nay, có mặt.
2. Lê Văn X sinh năm 1989 tại tỉnh Hậu Giang; nơi cư trú: ấp 2, xã TH, huyện M, tỉnh Hậu Giang; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: không; trình độ văn hoá (học vấn): 08/12; nghề nghiệp: thợ hồ; con ông Lê Văn C(đã chết) và bà Võ Thị H; tiền án, tiền sự: không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/9/2020 cho đến nay, có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo Lê Văn X:
1. Ông Võ Thanh K, vắng mặt.
2. Ông Đinh Minh P, có mặt.
Ông Võ Thanh K và ông Đinh Minh P là Luật sư Công Ty Luật TNHH Logic & Cộng Sự thuộc Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh.
Ngoài ra, có 01 bị hại và 03 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Sáng ngày 06/9/2020, Lê Minh Đ và Lê Văn X đến nhà chủ thầu xây dựng tại khu phố B, phường BH, thành phố A để lấy tiền lương và ăn uống. Đến khoảng 17 giờ 00 phút cùng ngày, Lê Văn X điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius biển số 69D1-227.60 của Lê Minh Đ để chở Lê Minh Đ về lại thành phố BH, tỉnh Đồng Nai. Khi đi qua cầu sắt Miễu thuộc khu phố B, phường BH, thành phố A thì gặp ông Huỳnh Văn T đang điều khiển xe cùng chiều, do cầu hẹp và hai bên không nhường đường nhau nên xảy ra tranh cãi, Lê Minh Đ bước xuống xe dùng tay nắm đuôi xe của ông Huỳnh Văn T kéo lại, ông Huỳnh Văn T tăng ga xe bỏ chạy làm Lê Minh Đ bị té ngã, ông Huỳnh Văn T thách thức với Lê Minh Đ và Lê Văn X đợi tí nữa sẽ quay lại đánh nhau. Nghe ông Huỳnh Văn T thách thức, Lê Minh Đ lấy xe mô tô biển số 69D1-227.60 chở Lê Văn X quay lại chân cầu chờ. Khoảng 15 phút sau, Lê Minh Đ và Lê Văn X thấy ông Cam Ngọc K điều khiển xe mô tô Honda Air Blade, biển số: 61C1-218.46 đến, Lê Minh Đ nghĩ ông Huỳnh Văn T quay lại nên Lê Minh Đ điều khiển xe chở Lê Văn X chặn xe của ông K lại. Lê Minh Đ cầm mũ bảo hiểm đưa lên hù dọa đòi đánh ông K, ông K bước qua tránh né thì Lê Minh Đ mở cốp xe giả vờ lấy hung khí và nói “tao lấy đồ chém chết mẹ mày”. Ông K nói với Lê Minh Đ “Anh nhầm với ai rồi, tôi không biết gì”, Lê Minh Đ tiếp tục cầm mũ bảo hiểm xông tới dí đuổi đánh làm ông K hoảng sợ bỏ xe chạy bộ được khoảng 30-40m rồi điện thoại về cho mẹ là bà Nguyễn Thị K nói đang bị hai thanh niên chặn đánh. Sau khi đuổi ông K bỏ chạy, Lê Minh Đ quay lại nói với Lê Văn X “Mày lấy xe chạy cho tao”, lúc này xe ông K đang cắm sẵn chìa khóa nên Lê Văn X lấy xe điều khiển chạy về hướng đường Lê Minh Đ, Lê Văn X đi về, Lê Minh Đ cũng điều khiển xe của mình chạy theo sau, được một đoạn thì Lê Minh Đ nói Lê Văn X để Lê Minh Đ chạy trước thì Lê Văn X điều khiển xe của ông Kné vào lề phải cho Lê Minh Đ điều khiển xe của mình chạy vượt lên trước. Sau khi gọi điện cho bà K, ông Kthấy Lê Văn X lấy xe của mình chạy về hướng Cầu 135 nên ông K vừa chạy bộ đuổi theo vừa hô “cướp, cướp…”. Ông K đuổi theo được một đoạn thì thấy anh ruột của mình là ông Cam Đ điều khiển xe mô tô chạy đến (ông Đ được bà K gọi điện thông báo sự việc sau khi nhận được điện thoại của ông K). Kiệt chỉ cho ông Đ đuổi theo Lê Văn X, Lê Minh Đ đang chạy phía trước, đồng thời ông K cũng lấy xe mô tô của Cha mình vừa chạy đến để đuổi theo Lê Minh Đ, Lê Văn X. Khi đuổi đến chân cây cầu Sắt trước khu dân cư Vĩnh Phú thì ông K đuổi kịp nên điều khiển xe đâm vào xe của Lê Văn X làm Lê Văn X té ngã rồi bắt giữ Lê Văn X, còn Lê Minh Đ bỏ xe chạy bộ về hướng Đình Thần Phú Hội để trốn thì bị phát hiện bắt giữ.
Theo Bản kết luận định giá tài sản ngày 15/9/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự kết luận: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Airblade biển số 61C1-21846 trị giá 16.000.000 đồng.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 385/2021/HS-ST ngày 02 tháng 12 năm 2021 của Tòa án nhân dân thành phố A, tỉnh Bình Dương, đã quyết định:
Tuyên bố các bị cáo Lê Minh Đ, Lê Văn X phạm tội “Cướp tài sản”.
Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 168; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017): xử phạt bị cáo Lê Minh Đ 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 11/01/2021, được trừ thời hạn tạm giữ từ ngày 06/9/2020 đến ngày 07/9/2020.
- Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 168; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017): xử phạt bị cáo Lê Văn X 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 06/9/2020.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về biện pháp tư pháp, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 08 tháng 12 năm 2021, bị cáo Lê Văn X có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt.
Ngày 12 tháng 12 năm 2021, bị cáo Lê Minh Đ có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt và xin xem xét lại bị cáo không có tội.
Tại phiên tòa, các bị cáo thay đổi nội dung kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử các bị cáo không phạm tội cướp, các bị cáo bị oan.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa phúc thẩm phát biểu ý kiến: Tại phiên tòa, các bị cáo thay đổi nội dung kháng cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử bị cáo không phạm tội cướp tài sản, các bị cáo bị oan. Bị cáo Lê Văn X và bị cáo Lê Minh Đ không thừa nhận hành vi phạm tội, tuy nhiên, căn cứ chứng cứ, tài liệu đã thu thập trong quá trình điều tra đã đủ kết luận hành vi phạm tội của bị cáo. Xét thấy, cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo với tội danh và mức hình phạt là phù hợp, kháng cáo của các bị cáo về việc đề nghị Tòa án tuyên không phạm tội là không có căn cứ. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Người bào chữa cho bị cáo Lê Văn X trình bày: bị cáo Lê Văn X hiền lành, thật thà, chịu làm ăn, sinh sống lương thiện, xét thấy yếu tố cấu thành tội Cướp tài sản cần đảm bảo 02 yếu tố là dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực, yếu tố thứ 2 là phải có mục đích chiếm đoạt tài sản. Các chứng cứ trong hồ sơ vụ án còn mờ nhạt, không rõ ràng, các bị cáo và bị hại có tranh cãi nhưng đứng cách xa nhau và các bị cáo không có hành vi dùng vũ lực đối với hại. Bị hại không bị lâm vào tình trạng không thể chống cự được. Các bị cáo Lê Văn X và Lê Minh Đ không có ý định chiếm đoạt tài sản, không bàn bạc hay tính toán gì về việc cướp tài sản. Các bị cáo lấy xe của bị hại là chỉ do bực tức bị hại, lấy để dằn mặt và hù dọa bị hại chứ không hề có ý định chiếm đoạt tài sản của bị hại. Do các bị cáo không chiếm đoạt tài sản nên không có căn cứ xét xử các bị cáo tội Cướp tài sản. Theo nguyên tắc suy đoán vô tội, nếu không có đủ căn cứ kết tội thì không được kết tội người có hành vi phạm tội. Từ các phân tích trên, đề nghị tuyên bị cáo Lê Văn X không có tội, hủy và đình chỉ bản án sơ thẩm hoặc tuyên hủy bản án sơ thẩm để điều tra lại, đồng thời thay đổi biện pháp ngăn chặn cho bị cáo Lê Văn X tại ngoại để đảm bảo tinh thần, sức khỏe của bị cáo.
Bị cáo Lê Văn X tranh luận: Thống nhất với trình bày của người bào chữa, không có ý kiến tranh luận bổ sung.
Bị cáo Lê Minh Đ không ý kiến tranh luận.
Trong lời nói sau cùng, bị cáo Lê Văn X mong Hội đồng xét xử xem xét lại bản án cho bị cáo, bị cáo không phạm tội. Đối với bị cáo Lê Minh Đ xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án và đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Đơn kháng cáo của các bị cáo được thực hiện trong thời hạn luật định nên đủ điều kiện để Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết theo quy định của pháp luật.
Các bị cáo Lê Văn X và Lê Minh Đ kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt. Xét thấy các bị cáo kháng cáo nhưng không cung cấp thêm được tình tiết giảm nhẹ mới. Tại phiên tòa, các bị cáo Lê Minh Đ, Lê Văn X thay đổi yêu cầu kháng cáo, kêu oan và cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt các bị cáo tội “Cướp tài sản” là không đúng. Tuy nhiên, căn cứ vào lời khai của bị cáo Lê Văn X tại (bút lục số 62 – 63) khai rằng: “... việc đứng chờ người đàn ông quay lại là do Lê Minh Đ kêu tôi ở lại chờ. Khoảng 5 -10 phút sau, có một người đàn ông khoảng 45 – 50 tuổi điều khiển xe mô tô Airblade chạy từ phía sau đến chỗ tôi và Lê Minh Đ. Lúc này Lê Minh Đ điều khiển xe chặn đầu xe của người này lại, đồng thời Lê Minh Đ làm động tác giả vờ mở cốp xe lên và nói “tao chém chết mẹ mày”. Thấy Lê Minh Đ đe dọa đánh nên người đàn ông này bỏ xe lại và chạy bộ về hướng cầu Ông Bố. Lê Minh Đ đuổi theo dọa đánh người đàn ông bỏ chạy được khoảng 30 - 40 mét thì Lê Minh Đ quay lại. Thấy Lê Minh Đ quay lại thì người đàn ông đi theo thì Lê Minh Đ lại tiếp tục đuổi người này. Sự việc diễn đi diễn lại khoảng 2-3 lần thì Lê Minh Đ quay lại chổ tôi đang đứng cùng hai chiếc xe nói “mày lấy xe chạy cho tao”...” , tại biên bản đối chất giữa bị cáo Lê Văn X và bị cáo Lê Minh Đ (bút lục số 46) đều khai rằng: “... khi bị hại dừng xe lại Lê Minh Đ cầm nón bảo hiểm vừa mở cốp xe Sirius và chử thề... thì bị hại bỏ xe lại và chạy thì Lê Minh Đ kêu tôi lấy xe của nó đi, nghe vậy tôi lấy xe của bị hại đi thì bị truy đổi và bị bắt sau đó”; tại (bút lục 65 – 66 và 210 -211) bị hại Cam Ngọc K khai: “... tôi bị 02 thanh niên chặn xe mô tô của tôi lại, sau đó người thanh niên cầm lái dọa đánh tôi và đuổi theo tôi để đánh. Tôi bỏ chạy thì hai thanh niên lấy xe tôi tẩu thoát và bị tôi cùng người dân hỗ trợ đuổi theo bắt giữ được hai đối tượng”. Đồng thời tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo Lê Văn X cũng thừa nhận hành vi phạm tội. Do đó, căn cứ vào lời khai của các bị cáo, lời khai bị hại và những người tham gia tố tụng khác, cùng với các chứng cứ tài liệu trong hồ sơ vụ án, xác định: khoảng 18 giờ 00 ngày 06/9/2020, tại khu phố B, phường BH, thành phố A, các bị cáo Lê Minh Đ, Lê Văn X đã sử dụng nón bảo hiểm là hung khí nguy hiểm để hù dọa, sau đó giả vờ mở cốp xe mô tô lấy thêm hung khí khác rồi tiếp tục hù dọa, đuổi đánh ông Cam Ngọc K nhằm mục đích chiếm đoạt xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Airblade biển số 61C1-21846 của ông Ktrị giá 16.000.000 đồng. Hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 168 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Vì vậy, Tòa án nhân dân dân thành phố A, tỉnh Bình Dương xét xử bị cáo Lê Minh Đ, Lê Văn X về tội “Cướp tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 168 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Vì vậy, kháng cáo của các bị cáo Lê Văn X, Lê Minh D kêu oan là không có cơ sở nên không được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương đề nghị không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo là có cơ sở nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Ý kiến của người bào chữa cho rằng tòa cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Lê Văn X tội “Cướp tài sản” là chưa đủ căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bị cáo không phạm tội là không có cơ sở nên không được chấp nhận.
Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Về án phí hình sự phúc thẩm: do kháng cáo của các bị cáo không được chấp nhận nên các bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định tại Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015,
1. Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Lê Minh Đ và Lê Văn X, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số: 385/2021/HS-ST ngày 02 tháng 12 năm 2021 của Tòa án nhân dân thành phố A, tỉnh Bình Dương.
2. Về tội danh:
Tuyên bố các bị cáo Lê Minh Đ, Lê Văn X phạm tội “Cướp tài sản”.
3. Về trách nhiệm hình sự:
Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 168; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017): xử phạt bị cáo Lê Minh Đ 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 11/01/2021, được trừ thời hạn tạm giữ từ ngày 06/9/2020 đến ngày 07/9/2020.
Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 168; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017): xử phạt bị cáo Lê Văn X 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 06/9/2020.
4. Án phí hình sự phúc thẩm: các bị cáo Lê Minh Đ và Lê Văn X mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.
5. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tối cao; - Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương; - Phòng Hồ sơ – Công an tỉnh Bình Dương; - Tòa án nhân dân thành phố A, tỉnh Bình Dương (2); - Viện Kiểm sát nhân dân thành phố A, tỉnh Bình Dương; - Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố A, tỉnh Bình Dương; - Bị cáo (2), - Người tham gia tố tụng (2); - Chi cục Thi hành án dân sự thành phố A, tỉnh Bình Dương; - Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương; - Lưu VP (2), hồ sơ vụ án, NMT, 25. CÁC THẨM PHÁN Trương Văn Lộc Lê Quân Vương | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Huỳnh Đức THẨM PHÁN – CHỦ TỌA Nguyễn Huỳnh Đức |