vanban.org

Bản án 90/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND tỉnh Bắc Giang Tuyên án 27/06/2022 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Cho anh Bùi Quang T được ly hôn với chị Đoàn Thị Thu H.

Về án phí: Anh Bùi Quang T phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0000415 ngày 06/5/2022 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh B. Xác nhận anh Bùi… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp hôn nhân gia đình"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho anh Bùi Quang T được ly hôn với chị Đoàn Thị Thu H.
  • Căn cứ chính? Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 123 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH B

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 90/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 27/6/2022
“V/v Tranh chấp hôn nhân và gia đình”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH B

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Hà

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Bích.

2. Ông Nguyễn Văn Chiến.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Vân - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh B.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Btham gia phiên toà: Bà Hà Thị Hải - Kiểm sát viên trung cấp.

Ngày 27/6/2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh B xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 78/2022/TLST-HNGĐ ngày 06tháng 5 năm 2022về “Tranh chấp Hôn nhân và gia đình”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 74/2022/QĐXX-ST ngày 26/5/2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 60/2022/QĐ-ST ngày 10/6/2022, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Bùi Quang T, sinh năm: 1978. (vắng mặt).

Địa chỉ: Xóm 3, xã Tử Nê, huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình

- Bị đơn: Chị Đoàn Thị Thu H, sinh năm: 1980. (vắng mặt).

Nơi ĐKHKTT: Số 13, đường Đê Tân Ninh, phường Trần Phú, thành phố B, tỉnh B. (Hiện đang lao động tại nước ngoài).

Địa chỉ cuối cùng của chị Đoàn Thị Thu H tại Việt Nam là số 13, đường Đê Tân Ninh, phường Trần Phú, thành phố B, tỉnh B.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện về việc xin ly hôn, bản tự khai ngày 06/5/2022 và các bản khai tiếp theo, nguyên đơn anh Bùi Quang T trình bày:

Anh và chị Đoàn Thị Thu H đến với nhau trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, được tự do tìm hiểu và có đăng ký kết hôn ngày 26/3/1999 tại Ủy ban nhân dân phường Trần Phú, thị xã B, tỉnh B. Sau khi kết hôn anh về chung sống cùng gia đình chị H. Quá trình chung sống vợ chồng không tìm được tiếng nói chung dẫn đến tình cảm vợ chồng rạn nứt. Đến năm 2002 chị H đã đi sang nước ngoài lao động nhưng không được sự đồng tình của anh, đến năm 2006 thì anh về Hòa Bình sinh sống từ đó đến nay. Kể từ khi chị H đi sang nước ngoài lao động thì vợ chồng đã không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, không liên lạc gi với nhau nữa. Nay anh nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được tôi đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh B giải quyết cho anh được ly hôn với chị Đoàn Thị Thu H.

-Về con chung: Vợ chồng anh có 1 con chung là cháu Bùi Đoàn Diệu L, sinh ngày 14/9/2000. Hiện nay cháu L đã trưởng thành nên anh không đề nghị Tòa án giải quyết về con chung.

-Về tài sản, công nợ: Không có, anh không đề nghị Tòa án giải quyết.

Ngoài ra anh T còn trình bày: Hiện nay chị H vẫn đang lao động ở nước ngoài, địa chỉ cụ thể của chị H ở nước ngoài anh không cung cấp được cho Tòa án được vì anh có hỏi nhưng chị H không cung cấp địa chỉ cho anh được biết, chị H vẫn liên lạc về cho con là cháu Bùi Đoàn Diệu L, trú tại: Số nhà 13, đê Tân Ninh, phường Trần Phú, thành phố B, tỉnh B nhưng cháu L cũng không cung cấp địa chỉ cho anh biết nên anh không biết để cung cấp cho Tòa án.

Do tính chất công việc nên anh không thể tham gia được các phiên họp kiểm tra tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, các phiên tòa xét xử vụ án tranh chấp hôn nhân gia đình giữa anh và chị H được, nên anh đề nghị Tòa án cho anh được vắng mặt trong các phiên họp kiểm tra tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, các phiên tòa xét xử vụ án tranh chấp Hôn nhân gia đình giữa anh và chị H.

Bị đơn chị Đoàn Thị Thu H không có bản tự khai.

Ngày 10/5/2022 và ngày 20/5/2022 Tòa án nhân dân tỉnh B đã tiến hành làm việc với con gái của chị Hlà cháu Bùi Đoàn Diệu L, sinh năm 2000; trú tại: Số nhà 13, đê Tân Ninh, phường Trần Phú, thành phố B, tỉnh B để giao thông báo thụ lý vụ án và yêu cầu cháu Bùi Đoàn Diệu L thông báo cho chị H biết về việc Tòa án nhân dân tỉnh B đang thụ lý vụ án tranh chấp Hôn nhân gia đình giữa anh Bùi Quang T và chị Đoàn Thị Thu H; yêu cầu chị H viết bản tự khai, lời khai về cho Tòa án; yêu cầu cháu Bùi Đoàn Diệu L cung cấp địa chỉ cụ thể của chị H ở nước ngoài. Tuy nhiên qua 2 lần làm việc cháu Bùi Đoàn Diệu Lvẫn giữ nguyên quan điểm là mẹ cháu ở nước ngoài vẫn thường xuyên liên lạc về cho cháu nhưng cháu không cung cấp địa chỉ cụ thể của mẹ cháu ở nước ngoài cho Tòa án, vì đây là việc cá nhân của mẹ cháu, đồng thời cháu Bùi Đoàn Diệu L cũng không thực hiện theo yêu cầu của Tòa án thông báo cho chị H biết để chị H gửi lời khai về. Kể từ đó đến nay, Tòa án cũng không nhận được bất kỳ lời khai nào của chị H gửi về.

Tại phiên tòa nguyên đơn anh Bùi Quang T vắng mặt tại phiên tòa, có đơn xin xét xử vắng mặt. Chị Đoàn Thị Thu H vắng mặt không có lý do.

Thay mặt Hội đồng xét xử thông qua đơn khởi kiện, bản tự khai của anh T; Biên bản làm việc với cháu Bùi Đoàn Diệu L là con gái của chị H và thông qua các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh B phát biểu về việc tuân theo pháp luật về tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký Tòa án đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án.

Về việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn anh Bùi Quang T có đơn xin xét xử vắng mặt thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình được quy định trong Bộ luật tố tụng dân sự, bị đơn chị H không có địa chỉ cụ thể ở nước ngoài Tòa án đã niêm yết đầy đủ các văn bản tố tụng đối với chị H; Căn cứ vào công văn số 253/TANDTC-PC ngày 26/11/2018 của Tòa án nhân dân Tối cao xử vắng mặt chị Đoàn Thị Thu H là đúng.

-Về nội dung: Đề nghị HĐXX áp dụng Điều 51, 53, 56 và khoản 2 Điều 123; Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37; khoản 4 Điều 147; Điều 271; Điều 273; Điều 150 BLTTDS; khoản 1, khoản 2 Điều 479 BLTTDS; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTBVQH14 ngày 30/12/2016 Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Bùi Quang T.

Về hôn nhân: Cho anh Bùi Quang T được ly hôn chị Đoàn Thị Thu H.

Về án phí : Anh Bùi Quang T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được công bố tại phiên toà. Sau khi thảo luận và nghị án. Hội đồng xét xử nhận định:

. Về thủ tục tố tụng: Anh Bùi Quang T là nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự quyết định xét xử vắng mặt anh Bùi Quang T.

Đối với bị đơn chị Đoàn Thị Thu H vắng mặt tại phiên tòa: Tòa án nhân dân tỉnh B đã tiến hành làm việc với cháu Bùi Đoàn Diệu L là con gái của chị Đoàn Thị Thu H để giao thông báo thụ lý vụ án, yêu cầu cháu L thông báo cho chị H biết về việc Tòa án nhân dân tỉnh B đang thụ lý vụ án tranh chấp Hôn nhân gia đình giữa anh Bùi Quang T và chị Đoàn Thị Thu H; Yêu cầu chị H viết bản tự khai, lời khai về cho Tòa án; Yêu cầu cháu Bùi Đoàn Diệu L cung cấp địa chỉ cụ thể của chị H ở nước ngoài. Cháu Bùi Đoàn Diệu L trình bày: Mẹ cháu là Đoàn Thị Thu H ở nước ngoài vẫn thường xuyên liên lạc về cho cháu. Tuy nhiên, Tòa án đã yêu cầu đến lần thứ hai mà cháu Bùi Đoàn Diệu L vẫn không cung cấp địa chỉ, tin tức của chị H cho Tòa án, cũng như không chịu thực hiện yêu cầu của Tòa án thông báo cho chị H biết. Nhận thấy đây là trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ, từ chối khai báo, từ chối cung cấp những tài liệu cần thiết. Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng cho bị đơn theo quy định của pháp luật. Vì vậy, căn cứ vào Công văn số 253/TANDTC-PC ngày 26/11/2018 của Tòa án nhân dân Tối cao; khoản 2 điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bị đơn chị Đoàn Thị Thu H theo thủ tục chung.

.Về thẩm quyền: Anh Bùi Quang T là nguyên đơn có đơn xin ly chị Đoàn Thị Thu H, chị H hiện đang lao động tại nước ngoài nhưng không rõ địa chỉ (theo Công văn số 8832/QLXNC-P5 ngày 09/5/2022 của Cục Quản lý xuất nhập cảnh - Bộ công an), thì chị H đã xuất nhập cảnh 17 lần, lần xuất cảnh gần nhất là ngày 04/9/2020 hiện chưa có thông tin nhập cảnh trở lại, địa chỉ cuối cùng của chị H ở Việt Nam là: Số nhà 13, đê Tân Ninh, phường Trần Phú, thành phố B, tỉnh B. Như vậy, đây là vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình có đương sự ở nước ngoài thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh B, theo quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3]. Về quan hệ Hôn nhân: Anh Bùi Quang T và chị Đoàn Thị Thu H kết hôn ngày 26/3/1999 trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND phường Trần Phú, thành phố B, tỉnh B. Đây là hôn nhân hợp pháp.

Theo anh T trình bày: Sau khi kết hôn anh về chung sống cùng gia đình chị H. Quá trình chung sống vợ chồng không tìm được tiếng nói chung dẫn đến tình cảm vợ chồng rạn nứt. Đến năm 2002 chị H đã đi sang nước ngoài lao động nhưng không được sự đồng tình của anh, đến năm 2006 thì anh về Hòa Bình sinh sống từ đó đến nay. Kể từ khi chị H đi sang nước ngoài lao động thì vợ chồng đã không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, không liên lạc gi với nhau nữa. Nay anh nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được tôi đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh B giải quyết cho anh được ly hôn với chị Đoàn Thị Thu H.

Xét yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của anh Bùi Quang T. Hội đồng xét xử thấy: Sau khi kết hôn anh T và chị H chung sống với nhau hạnh phúc được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng không tìm được tiếng nói chung. Đến năm 2002thì chị H đã đi xuất khẩu lao động nhưng không được sự đồng ý của anh T. Kể từ khi chị H đi nước ngoài thì vợ chồng đã không còn quan tâm và liên lạc gì với nhau nữa. Xét thấy tình cảm vợ chồng giữa anh T và chị H đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh T. Xử cho anh Bùi Quang T được ly hôn với chị Đoàn Thị Thu H.

[4]. Về con chung: Anh Bùi Quang T và chị Đoàn Thị Thu H có 01 con chung là cháu Bùi Đoàn Diệu L, sinh năm 2000. Hiện nay, cháu L đã trưởng thành, ly hôn anh không đề nghị Tòa án giải quyết về con chung và cấp dưỡng nuôi con chung.

.Về tài sản, công nợ: Anh Bùi Quang T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

. Về án phí: Anh Bùi Quang T phải nộp 300.000 đồng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ Luật Tố tụng dân sự và khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu , nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án. Nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh B.

. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271; Điều 273 và khoản 2 Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 53; khoản 1 Điều 56 và khoản 2 Điều 123; Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37; khoản 4 Điều 147; khoản 3 Điều 153; Điều 271; Điều 273; khoản1, khoản 2 Điều 479 Bộ Luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27; Điều 44 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án. Xử:

1. Về hôn nhân: Cho anh Bùi Quang T được ly hôn với chị Đoàn Thị Thu H.

2.Về án phí: Anh Bùi Quang T phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0000415 ngày 06/5/2022 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh B. Xác nhận anh Bùi Quang T đã nộp đủ.

3.Về quyền kháng cáo bản án: Anh Bùi Quang T vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ nhận được tống đạt Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định.

Chị Đoàn Thị Thu H hiện đang ở nước ngoài vắng mặt tại phiên tòa có thời hạn kháng cáo Bản án là 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

Án xử công khai sơ thẩm.

Cỡ chữ