vanban.org

Bản án 90/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn: Chị H được ly hôn anh T.

Về con chung: Giao con chung N, sinh ngày 21/6/2018 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng. Anh T không phải cấp dưỡng nuôi con và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "xin ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn: Chị H được ly hôn anh T.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TÂY HÒA
TỈNH PHÚ YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 90/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 28 - 9 - 2022
V/v: “Tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂY HÒA, TỈNH PHÚ YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thanh Huệ.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Thanh Tâm, bà Phan Thị Liên.

Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Cẩm Thoang – Thư ký Tòa án nhân dân huyện

Tây Hòa tỉnh Phú Yên.

Ngày 28 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số: 155/2022/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 6 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 76/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 25/8/2022, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: H – sinh năm 1992;

Địa chỉ: Thôn P, xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên.

- Bị đơn: T – sinh năm 1989;

Địa chỉ: Thôn P, xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên.

(Nguyên đơn xin vắng mặt, bị đơn vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Nguyên đơn H trình bày:

- Quan hệ hôn nhân: Chị H và anh T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng

ký kết hôn năm 2015 tại UBND xã H. Sau khi kết hôn, vợ chồng chị H sống hạnh phúc một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn; nguyên nhân do không hợp tính, anh T không lo làm ăn mà thường xuyên uống rượu về gây sự, có lúc đánh chị H. Mâu thuẫn đã được gia đình hai bên hòa giải nhưng không đạt kết quả. Từ cuối năm 2017, chị H bỏ về phía chị sinh sống; từ đó, không ai còn quan tâm đến ai. Từ cuối năm 2018, anh T bỏ đi khỏi địa phương, không rõ đi đâu, làm gì. Chị H yêu cầu Tòa án thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú đối với anh T, đến nay đã hết thời hạn thông báo tìm kiếm nhưng anh T không có mặt.

Chị H nhận thấy tình cảm đã hết, trên thực tế hai bên đã sống xa nhau trên

05 năm không ai còn quan tâm đến ai nên xin được ly hôn anh T.

- Về con chung: Có 01 con chung tên N, sinh ngày 21/6/2018, từ khi sinh ra

do chị H nuôi dưỡng. Chị H xin được tiếp tục nuôi con, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết.

Ngoài ra, không yêu cầu gì khác.

* Bị đơn T vắng mặt tại nơi cư trú từ cuối năm 2018, đã được triệu tập hợp

lệ theo quy định của pháp luật, đến nay anh T vẫn vắng mặt. Do đó, Toà án nhân dân huyện Tây Hòa không tiến hành hoà giải được.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án được thẩm tra

tại phiên toà, trên cơ sở xem xét ý kiến trình bày của đương sự. Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Nguyên đơn chị H có đơn xin vắng mặt. Bị đơn anh T bỏ đi khỏi địa

phương từ cuối năm 2018 đến nay, không biết đi đâu. Vào ngày 22/12/2021, Tòa án nhân dân huyện Tây Hòa ban hành Quyết định số 07/2021/QĐST – VDS chấp nhận yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt nơi cư trú và ban hành Thông báo tìm kiếm số 01/2022/TB ngày 11/01/2022 thông báo tìm kiếm anh T về để giải quyết vụ án “Xin ly hôn” với chị H. Đến nay, đã hết thời hạn thông báo, anh T vẫn không có mặt tại Tòa. Do đó, Tòa án tiến hành giải quyết vụ án “Xin ly hôn” giữa chị H và anh T theo quy định. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tiếp tục triệu tập anh T đến Tòa, nhưng anh T vắng mặt. Như vậy, căn cứ vào các Điều 227, 228, 238 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt tất cả các đương sự.

Về quan hệ hôn nhân: Chị H và anh T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có

đăng ký kết hôn tại UBND xã H vào ngày 05/10/2015 nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp.

Chị H khai trong quá trình chung sống, vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, do bất

đồng quan điểm, thường xuyên cãi nhau. Hai bên tự xa nhau từ năm 2017 đến nay, không ai còn quan tâm ai. Tòa án nhân dân huyện Tây Hòa đã thông báo tìm kiếm anh T để giải quyết vụ án “Xin ly hôn” với chị H; đến nay, đã hết thời hạn thông báo, anh T vẫn không có mặt tại Tòa, không có ý kiến gì phản bác lại yêu cầu xin ly hôn của chị H.

Như vậy, đủ cơ sở xác định mâu thuẫn giữa chị H, anh T đã thực sự trầm

trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị H.

Về con chung: Xét thấy con chung N, lâu nay do chị H nuôi dưỡng, đã

quen sống cùng chị H nên để tránh xáo trộn về chỗ ở, tạo điều kiện cho cháu N phát triển tốt về thể chất lẫn tinh thần, cần chấp nhận yêu cầu của chị H: Giao cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng con chung N.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị H làm công nhân, có đủ khả năng nuôi con,

chị H không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không buộc anh T phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Đương sự không yêu cầu giải quyết nên không xét.

Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị H phải chịu: 300.000 đồng

(Ba trăm nghìn đồng).

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 238 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn: Chị H được ly hôn anh T.

2. Về con chung: Giao con chung N, sinh ngày 21/6/2018 cho chị H trực

tiếp nuôi dưỡng. Anh T không phải cấp dưỡng nuôi con và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

3. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị H phải chịu án phí về yêu cầu

xin ly hôn: 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Số tiền này được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp tại biên lai thu tiền số 0002426 ngày 08/6/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên. Như vậy, chị H đã nộp xong án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15

ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.

Cỡ chữ