vanban.org

Bản án 90/2022/DS-PT — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TAND tỉnh Tây Ninh Tuyên án 06/06/2022 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 06/06/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không ch p nhận kháng cáo của bà D ơng Thị Kim H và ông Nguyễn Việt H.

Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 13 2022 DS-ST, ngày 01-3-2022 của Tòa án nhân dân thành phố N, tỉnh N. Không ch p nhận yêu cầu khởi kiện của bà D ơng Thị Kim H đối với ông D ơng T n T về việc “Tranh ch p h p đ ng vay tài sản”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Dương Thị Kim H - Dương Tấn Tài"
  • Tòa quyết gì? Không ch p nhận kháng cáo của bà D ơng Thị Kim H và ông Nguyễn Việt H.
  • Căn cứ chính? Điều 124 Bộ luật Dân sự; Điều 147 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 148 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 90/2022/DS-PT
Ngày: 06-6-2022
V v Tranh ch p h p đ ng
vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Văn Ngầu.

Các Thẩm phán: 1. Bà Phạm Thị Hồng Vân;

2. Bà Nguyễn Thanh Minh Châu.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phố, Th ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Bé Thi - Kiểm sát viên.

Trong 02 ngày 30 tháng 5 và ngày 06 tháng 6 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh đ a ra xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số 70 2022 TLPT-DS ngày 05 tháng 4 năm 2022 về “Tranh ch p h p đ ng vay tài sản”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 13 2021 DS-ST ngày 01 tháng 3 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh, bị kháng cáo.

Theo Quyết định đ a vụ án ra xét xử số 96 2022 QĐXXPT-DS ngày 05 tháng 5 năm 2022, giữa các đ ơng sự:

- Nguyên đơn: Bà Dương Thị Kim H, sinh năm 1964; địa chỉ c trú: số 11, hẻm 60, đ ờng CMT8, khu phố 7, ph ờng 3, thành phố N, tỉnh N. Vắng mặt

Ng ời đại diện theo ủy quyền của bà H: Bà Lê Thị Kiều D, sinh năm 1981; địa chỉ c trú: p A, xã N, Huyện C, tỉnh N (theo văn ủy quyền ngày 21-01-2022). Có mặt.

- Bị đơn: Ông Dương Tấn T, sinh năm 1979; địa chỉ c trú: số 5, hẻm 60, đ ờng CMT8, khu phố 7, ph ờng 3, thành phố N, tỉnh N. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Việt H, sinh năm 1964, địa chỉ: số 11, hẻm 60, đ ờng CMT8, khu phố 7, ph ờng 3, thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Dương Thị Kim H và người đại diện hợp pháp của bà H trình bày:

Vào ngày 20-5-2014, bà H cho ông D ơng T n T (là em ruột bà H) vay số tiền 450.000.000 đ ng để kinh doanh dịch vụ cầm đ . Bà giao tiền cho ông T 02 lần, lần 1 giao 300.000.000 đ ng, lần 2 giao 150.000.000 đ ng, ông T có viết gi y m n n ghi ngày 20-5-2014 và hứa sau này bán đ t trả. Trong gi y m n n không ghi lãi su t, nh ng giữa hai bên có thỏa thuận miệng với nhau, ông T trả tiền lãi 3.000.000 đ ng 1tháng và đã trả tiền lãi đến năm 2018 thì ng ng không trả tiếp. Bà H yêu cầu ông T trả cho bà số tiền 450.000.000 đ ng, không yêu cầu trả tiền lãi. Ngu n gốc số tiền cho ông T vay là do bà H vay của mẹ ch ng bà H là bà Phan Thị G (hiện nay đã chết). Đến ngày 30-5-2019, bà vay Quỹ tín dụng nhân dân ph ờng 3, thành phố N, tỉnh N số tiền 400.000.000 đ ng và bỏ thêm tiền tích lũy của gia đình 50.000.000 đ ng để trả n cho bà G.

Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Dương Tấn T trình bày:

Ngày 20-5-2014, ông có vay tiền của bà H để kinh doanh dịch vụ cầm đ . Số tiền vay và số lần giao nhận tiền nh bà H trình bày. Ông có viết gi y n cho bà H, thỏa thuận miệng trả tiền lãi cho bà H mỗi tháng 4.100.000 đ ng, ông trả tiền lãi đến năm 2018 thì ng ng. Ngoài ra ông còn n bà Lê Thanh L số tiền 756.000.000 đ ng theo (theo Bản án số 14 2019 DS-ST ngày 20-5-2019 của Tòa án nhân dân thành phố N, tỉnh N) và n chị v là bà Nguyễn Thị L số tiền 700.000.000 đ ng. Nay, ông đ ng ý trả bà H số tiền vốn 450.000.000 đ ng và 50.000.000 đ ng tiền lãi. Ông yêu cầu đ c chia tỷ lệ phần trăm số tiền ông đ c chia thừa kế theo Bản án số 109 2021 DS-PT ngày 21-5-2021 của Tòa án nhân dân tỉnh N đang bị Chi cục Thi hành án dân sự thành phố N, tỉnh N kê biên để thi hành án cho bà Lê Thanh L, số tiền n bà Nguyễn Thị L, số tiền phải trả cho bà H theo bản án này và hỗ tr cho ông 01 phần để ổn định cuộc sống.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Việt H trình bày thống nh t ý kiến của bà D ơng Thị Kim H.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 13 2022 DS-ST ngày 01-3-2022 của Tòa án nhân dân thành phố N, tỉnh N căn cứ khoản 3 Điều 26; khoản 1 Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 124 Bộ luật Dân sự 2015; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326 2016 UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Th ờng vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án, tuyên xử:

Không ch p nhận yêu cầu khởi kiện của bà D ơng Thị Kim H đối với ông D ơng T n T về việc “Tranh ch p h p đ ng vay tài sản”.

Tuyên bố “H p đ ng dân sự vay tài sản” ngày 20-5-2014 giữa bà D ơng Thị Kim H và ông D ơng T n T là giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo.

Ngoài ra bản án còn quyết định về án phí, quyền kháng cáo của các đ ơng sự theo quy định của pháp luật.

Cùng ngày 09-3-2022, bà D ơng Thị Kim H kháng cáo đề nghị c p phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm buộc ông D ơng T n T trả cho bà số tiền 450.000.000 đ ng; ông Nguyễn Việt H kháng cáo đề nghị c p phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo h ớng buộc ông D ơng T n T trả cho bà H 450.000.000 đ ng tiền vay gốc và 50.000.000 đ ng tiền lãi.

Tại phiên tòa:

- Đại diện h p pháp của nguyên đơn bổ sung nội dung kháng cáo, yêu cầu Tòa án c p phúc thẩm buộc bà Nguyễn Thị Thùy C (v ông T) cùng có trách nhiệm với ông T trả cho bà D ơng Thị Kim H số tiền gốc 450.000.000 đ ng.

- Bị đơn – ông D ơng T n T đ ng ý trả cho bà D ơng Thị Kim H số tiền 450.000.000 đ ng tiền vay gốc và 50.000.000 đ ng tiền lãi; đây là n ông vay riêng bản thân ông, v ông không biết nên không có trách nhiệm cùng ông trả n .

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

+ Về tố tụng: Thẩm phán, Th ký Tòa án ch p hành đúng quy định pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án. Hội đ ng xét xử tiến hành xét xử đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đ ơng sự thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

+ Về nội dung: đề nghị Hội đ ng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, không ch p nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn (bà D ơng Thị Kim H) và ng ời có quyền l i, nghĩa vụ liên quan (ông Nguyễn Việt H), giữ nguyên bản án sơ thẩm. Buộc bà D ơng Thị Kim H và ông Nguyễn Việt H chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên toà, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, xét thấy:

Về thủ tục tố tụng:

Tòa án nhân dân thành phố N, tỉnh N xét xử vụ án, tuyên án vào ngày 01-3-2022; ngày 09-3-2022, nguyên đơn (bà D ơng Thị Kim H) và ng ời có quyền l i, nghĩa vụ liên quan (ông Nguyễn Việt H) kháng cáo; đơn kháng cáo của nguyên đơn và ng ời có quyền l i, nghĩa vụ liên quan phù h p với quy định Điều 272 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Ng ời có quyền l i, nghĩa vụ liên quan (ông Nguyễn Việt H) vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt, Hội đ ng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại khoản 2 Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa, ng ời đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bổ sung kháng cáo, yêu cầu Tòa án c p phúc thẩm buộc bà Nguyễn Thị Thùy C (v ông T) cùng có trách nhiệm với ông T trả cho bà D ơng Thị Kim H số tiền gốc 450.000.000 đ ng. Yêu cầu này v t quá kháng cáo ban đầu của bà D ơng Thị Kim H.

Xét kháng cáo của bà D ơng Thị Kim H và ông Nguyễn Việt H, Hội đ ng xét xử th y rằng:

Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, bà H trình bày có cho ông T (em ruột bà H) vay 450.000.000 đ ng; giao nhận tiền làm 02 lần, lần 1 giao 300.000.000 đ ng, lần 2 giao 150.000.000 đ ng (bút lục số 31). Trong khi đó, ông Tài khai nhận tiền 02 lần, lần 1 nhận 400.000.000 đ ng, lần 2 nhận 50.000.000 đ ng (bút lục số 34).

Tại phiên tòa sơ thẩm, bà H và ng ời đại diện theo ủy quyền của bà H trình bày số tiền khởi kiện ông T 450.000.000 đ ng, trong đó, có 400.000.000 đ ng tiền vay gốc và 50.000.000 đ ng là tiền lãi; có lúc khai là giao tiền cho ông T vay 02 lần, lần 1 giao 400.000.000 đ ng, lần 2 giao 50.000.00 đ ng. Trong khi đó, ông T có lúc khai nhận tiền vay của bà H 02 lần, lần 1 nhận 200.000.000 đ ng, lần 2 nhận 250.000.000 đ ng; có lúc khai vay tiền bà H 400.000.000 đ ng và nhận tiền một lần.

Về tiền lãi: bà H trình bày cho ông T vay tiền, ông T trả tiền lãi mỗi tháng 3.000.000 đ ng, còn ông T trình bày trả tiền lãi cho bà H mỗi tháng 4.100.000 đ ng. Tại phiên tòa sơ thẩm bà H trình bày ông T chỉ trả lãi một lần đ c 4.100.000 đ ng, trong khi đó ông T khai đã trả tiền lãi cho bà H mỗi tháng 4.000.000 đ ng, trả đ c m ời m y lần, hiện chỉ còn n bà H 400.000.000 đ ng tiền gốc. Tại phiên tòa phúc thẩm, ng ời đại diện h p pháp cho bà H và bị đơn - ông T trình bày và thống nh t ông T đã trả tiền lãi cho bà H mỗi tháng 3.000.000 đ ng, trả đến năm 2018 thì ng ng.

Nh vậy, số tiền vay, các lần giao nhận tiền, trả tiền lãi các bên trình bày không thống nh t, mâu thuẫn với nhau và mâu thuẫn đối với chính lời trình bày của bản thân mỗi đ ơng sự.

Về ngu n tiền cho vay: bà H trình bày là do bà vay tiền của mẹ ch ng bà tên Phan Thị G (ở thành phố H, tỉnh N) để cho ông T vay, số tiền này ông H (ch ng bà) không biết; ông H khai việc bà H (v ông) m n tiền của mẹ ruột ông cho ông T vay, ông không biết. Sau này, khi mẹ ông đòi tiền, ông mới biết. Lời trình bày này của ông H và bà H là không có cơ sở ch p nhận, bởi vì, đây là số tiền lớn, khi bà H vay của bà G, không có ông H cùng tham gia thì chắc chắn bà G phải thông báo cho ông H biết, chứ không thể đến khi bà G đòi tiền, ông H mới biết. Mặt khác, quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án c p sơ thẩm, Tòa án c p sơ thẩm đã làm việc yêu cầu bà H cung c p địa chỉ nơi ở của bà Phan Thị G để Tòa án tiến hành xác minh để xác định có việc bà H vay tiền của bà G hay không, nh ng bà H từ chối không cung c p.

Mặt khác, bà H chỉ khởi kiện yêu cầu ông T trả 450.000.000 đ ng, không yêu cầu trả tiền lãi, ông T đ ng ý trả tiền vay gốc 450.000.000 đ ng và trả tiền lãi 50.000.000 đ ng. Trong khi đó ông T còn phải thi hành án cho bà Lê Thanh L số tiền 756.000.000 đ ng (theo Bản án số 14 2019/DS-ST ngày 10-5-2022 của Tòa án nhân dân thành phố N, tỉnh N), tài sản ông T đ c chia thừa kế trị giá bằng tiền là 704.000.000 đ ng (theo Bản án số 109 2021/DS-PT ngày 21-5-2021 của Tòa án nhân dân tỉnh N). Ông T yêu cầu đ c dùng số tiền đ c chia thừa kế theo Bản án số 109 2021 DS-PT để trả cho các chủ n , trong đó có số n ông đ ng ý trả cho bà H trong vụ án này.

Từ những phân tích trên, th y rằng giao dịch vay tiền giữa bà D ơng Thị Kim H với ông D ơng T n T là giao dịch giả tạo, không có thật nhằm để trốn tránh nghĩa vụ trả n của ông T đối với bên thứ 3, Tòa án c p sơ thẩm xét xử không ch p nhận yêu cầu khởi kiện của bà H và tuyên bố giao dịch này vô hiệu do giả tạo theo quy định tại khoản 2 Điều 124 của Bộ luật Dân sự năm 2015 là có căn cứ, đúng pháp luật.

Bà H, ông H kháng cáo, nh ng không cung c p đ c tài liệu, chứng cứ chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình là có căn cứ, nên không có căn cứ ch p nhận.

Từ những nhận định trên, không ch p nhận kháng cáo của bà D ơng Thị Kim H và ông Nguyễn Việt H, ch p nhận đề nghị của Kiểm sát viên, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Về án phí dân sự phúc thẩm: căn cứ khoản 1 Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326 2016 UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Th ờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, do giữ nguyên bản án sơ thẩm nên bà D ơng Thị Kim H và ông Nguyễn Việt H phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự

Không ch p nhận kháng cáo của bà D ơng Thị Kim H và ông Nguyễn Việt H.

Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 13 2022 DS-ST, ngày 01-3-2022 của Tòa án nhân dân thành phố N, tỉnh N.

Căn cứ khoản 2 Điều 124 Bộ luật Dân sự 2015; khoản 1 Điều 147; khoản 1 Điều 148; khoản 3 Điều 26; khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Th ờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Không ch p nhận yêu cầu khởi kiện của bà D ơng Thị Kim H đối với ông D ơng T n T về việc “Tranh ch p h p đ ng vay tài sản”.

Tuyên bố “H p đ ng vay tài sản” ngày 20-5-2014 giữa bà D ơng Thị Kim H và ông D ơng T n T là giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

2.1. Án phí dân sự sơ thẩm:

Bà D ơng Thị Kim H phải chịu 11.000.000 đ ng (m ời một triệu) đ ng nh ng đ c kh u trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 11.000.000 đ ng (m ời một triệu) đ ng theo biên lai thu số 0000549 ngày 18-10-2021 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố N, tỉnh N. Bà H đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.

2.2. Án phí dân sự phúc thẩm:

Bà D ơng Thị Kim H phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đ ng tiền án phí dân sự phúc thẩm, đ c kh u trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đ ng tại Biên lai thu số 0000849 ngày 11-3-2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố N, tỉnh N. Bà H đã nộp đủ tiền án phí dân sự phúc thẩm.

Ông Nguyễn Việt H phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đ ng tiền án phí dân sự phúc thẩm, đ c kh u trừ số tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đ ng tại Biên lai thu số 0000848 ngày 11-3-2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố N, tỉnh N. Ông H đã nộp đủ tiền án phí dân sự phúc thẩm.

3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ