vanban.org

Bản án 90/2021/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên Tuyên án 31/03/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Hg phạm tô ̣i “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và "Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức"

[2] Về hình phạt: Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 174; Điều 38; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn Hg 04 (bốn) năm tù. [3] Về hình phạt bổ sung: áp dụng khoản 5 Điều 174 Bộ luật hình sự phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Văn Hg 15.000.000 đồng (mƣời năm… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Hg phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và "Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức" - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều…"
  • Tòa quyết gì? [1] Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Hg phạm tô ̣i “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và "Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức"
  • Căn cứ chính? Điều 174 Bộ luật Hình sự; Điều 341 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN
TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:90/2021/HS-ST
Ngày:31/3/2021

NHÂN DANH

NƢỚ C CỘNG HÒ A XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIÊT NAṂ

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phá n - Chủ tọa phiên tòa: Bà Chu Thị Bích Hiền

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Ngọc Đức- Bà Trần Thanh Vân

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Huyền- Thƣ ký Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.

Đại diê ̣n Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tò a: Bà Nguyễn Thị Bình Nguyên – Chức vụ: Kiểm sát viên.

Hôm nay, ngày 31 tháng 3 năm 2021, tại Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số

: 68/2021/TLST-HS ngày 09 tháng 2 năm 2021 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 78/2021/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 3 năm 2021 đối vớ i bị cáo:

Nguyễn Văn Hg, sinh ngày 28/02/1989, tại Thái Nguyên; Nơi thƣờng trú: xóm V, xã HT, huyện Đ, tỉnh TN; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 12/12; Nghề nghiệp: không nghề; Con ông: Nguyễn Văn V, sinh năm 1958; Con bà: Nông Thị L, sinh năm 1962; gia đình bị cáo có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất; vợ: Nguyễn Thị T, sinh năm 1987; có 01 con sinh năm 2016, tiền án: không, tiền sự: không.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 18/9/2020 đến ngày 17/12/2020 đƣợc trả tự do và tiếp tục bị bắt tạm giam từ ngày 18/12/2020 cho đến nay, hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Nguyên (có mặt tại phiên tòa).

* Bị hại:

1) Anh Nguyễn Văn Th, sinh năm 1990 (vắng mặt)

Nơi thƣờng trú: Đội X, xã B, huyện P, TPHN

2) Anh Đào Trung Ng, sinh năm 1994 ( có đơn xin xử vắng mặt)

Nơi thƣờng trú: tổ X, phƣờng P, TPTN, tỉnh TN

3) Anh Nguyễn Văn Ch, sinh ngày 02/9/1994 ( có đơn xin xử vắng mặt)

Nơi thƣờng trú: tổ dân phố S, phƣờng L, thành phố S, tỉnh TN.

4) Anh Trần Văn T, sinh 1994 (có đơn xin xử vắng mặt)

Nơi thƣờng trú: tổ dân phố X, phƣờng T, TPTN, tỉnh TN.

5) Anh Nguyễn Quang T1, sinh năm 1982 (có đơn xin xử vắng mặt)

Nơi thƣờng trú: Số nhà X, Ngõ T, phƣờng H, Quận H, HN

6) Chị Lê Thị Nhƣ Q, sinh năm 1988 (có đơn xin xử vắng mặt)

Nơi thƣờng trú: xóm T, xã D, huyện T, HN;

7) Chị Đỗ Thị Ng1, sinh năm 1996 (có đơn xin xử vắng mặt)

Nơi thƣờng trú: Thôn T, xã PH, huyện B, tỉnh LC.

*Ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Trọng Hg, sinh năm 1994, nơi thƣờng trú: Thôn DP, xã CN, huyện KĐ, tỉnhH; chỗ ở hiện nay: số X, đƣờng NVL, phƣờng PĐ, huyện LB, HN. (có mặt)

* Ngƣời làm chứng:

1) Ông Đặng Xuân Ch1, sinh năm 1959 (vắng mặt)

Nơi thƣờng trú: xóm HT, xã H, huyện Đ, tỉnh TN

2) ) Anh Dƣơng Đức H1(Dƣơng Đức Hg1), sinh năm 1988 (vắng mặt)

Trú tại: xóm CS 1, xã S, TPTN, tỉnh TN

3) Anh Trần Văn S, sinh năm 1985 (vắng mặt)

Địa chỉ: Phố X, xã NH, huyện C, tỉnh B

4) Ông Vũ Hồng Th1, sinh năm 1959 (vắng mặt)

Nơi thƣờng trú: Số X, đƣờng Q, tổ Z, phƣờng Q, TPTN, tỉnh TN

5) Chị Đào Hồng Ng2, sinh năm 1988 (vắng mặt)

Nơi thƣờng trú: tổ X, phƣờng Q, TPTN, tỉnh TN.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Nguyễn Văn Hg là đối tƣợng không có nghề nghiệp ổn định, để có tiền chi tiêu cá nhân nên đã nảy sinh ý định lừa đảo của ngƣời khác thông qua mạng xã hội facebook với mục đích chiếm đoạt tài sản, để thực hiện hành vi lừa đảo Hồng đã đặt mua các con dấu nhƣ: dấu tròn đỏ khắc chƣ̃ “NGÂN HÀ NG

̉

̀ THƢƠNG MẠI CÔ PHÂN CÔNG THƢƠNG VI

ỆT NAM CHI NHÁNH TUYÊN QUANG”, 01 dấu hình chữ nhật khắc chữ “NHTMCP CÔNG THƢƠNG VIỆT NAM CHI NHÁNH BẮC SƠN ĐÃ THU TIỀN”, 01 dấu hình chữ nhật khắc chữ “NHTMCP CÔNG THƢƠNG VIỆT NAM CHI NHÁNH

̃ THU TIỀ HƢNG YÊN ĐÃ THU TIỀN”, 01 dấu khắc chữ “ĐA

N”, 01 dấu tên có chữ ký của Nguyễn Thị Hằng, 01 dấu tên có chữ ký của Lê Thị Hà, 01 dấu tên Phạm Thị Thúy và đến phòng giao dịch của Ngân hàng thƣơng mại cổ phần (TMCP) Công thƣơng Việt Nam tại phƣờng Thịnh Đán, thành phố Thái Nguyên xin mẫu giấy chuyển tiền của ngân hàng sau đó mang về để điền thông tin chuyển tiền đồng thời đóng các dấu trên để các bị hại tin tƣởng Hồng đã chuyển tiền và chuyển tài sản cho Nguyễn Văn Hg. Trong khoảng thời gian từ tháng 2 năm 2019 đến tháng 9 năm 2020 Nguyễn Văn Hg đã sử dụng các nick facebook ảo để chủ động nhắn tin hỏi mua tài sản của những ngƣời bán hàng trên facebook với mục đích lừa đảo chiếm đoạt tài sản đƣợc 05 vụ nhƣ sau:

Vụ thứ nhất: Ngày 18/2/2019, Nguyễn Văn Hg sƣ̉ du ̣ng tài khoản

Facebook tên “Bắc Nguyễn Đinh” truy cập vào trang "Câu lục 24/7 Miền Bắc"

̀ thì thấy tài khoản Facebook “Quang T 1” (sau xác định của anh Nguyễn Quang T1, sinh năm 1982, địa chỉ: Số nhà X, Ngõ T, phƣờng H, Quận H, HN) đăng thông tin bán 01 chiếc cần câu Daiwa Cast’izm 27-385 loại ba khúc màu cam . Hg đã nhắn tin với T1 qua ứng dụng Messenger để hỏi mua chiếc cần câu trên thì anh T1 đồng ý bán vớ i giá 7.600.000 đồng. Hg tiếp tu ̣c hỏi anh T1 mua thêm 01 cần câu khác thì anh T 1 đồng ý bán cho Hg chiếc cần câu nhan hiê ̣̃

u Tournament TPT 27-405 màu đỏ, loại rút với giá 6.500.000 đồng. Sau khi anh T1 đồng ý, Hg sƣ̉ du ̣ng số điê ̣n thoa ̣i 0973.412.508 để liên lạc với anh T 1, qua trao đổi, anh T1 đồng ý thanh toán tiền mua 02 chiếc cần câu bằng hình thức chuyển khoản và gửi cho Hg số tài khoản Ngân hàng Techcomba nk số 19031220417011 mang tên Nguyễn Quang T1 để chuyển tiền.

Sau khi xin đƣợc giấy chuyển tiền Hg tự ghi các nội dung chuyển số tiền 14.100.000 đồng đến số tài khoản 19031220417011, ngƣời nhận là Nguyễn Quang T1, ngƣời nộp tiền là Nguyễn Đình Bắc đồng thời Hg ký tên Nguyễn Đình Bắc vào phần “Ngƣời nộp tiền”, dùng dấu “ĐÃ THU TIỀN” đóng vào giấy nộp tiền, dùng dấu “Phạm Thị Thúy” đóng vào phần “Giao dịch viên” trong Giấy chuyển tiền của Ngân hàng Vietinbank rồi Hồng chụp ảnh lại. Đến khoảng 16 giờ cùng ngày, Hg gửi hình ảnh chụp giấy nộp tiền trên cho anh T1, sau khi xem hình ảnh anh T1 tƣởng là Hg đã chuyển tiền cho mình thật nên anh T1 hẹn giao 02 chiếc cần câu cho H g ta ̣i nút giao Tân Lâ ̣p trên đƣờ ng cao tốc hƣớ ng Hà Nô ̣i - Thái Nguyên, thuô ̣c phƣờ ng Tân Lâ ̣p, thành phố Thái Nguyên theo yêu cầu của Hg.

Khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày, anh T1 điều khiển xe ô tô đến đi ̣a điểm trên để giao cho Hg, Hg điều khiển xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA AIRBLADE, màu đen, BKS: 20L7-8111 tới điểm hẹn và đƣa cho anh T1 700.000 đồng là tiền thuê vâ ̣n chuyển 02 chiếc cần câu, Hg nhâ ̣n 02 chiếc cần câu và bỏ đi . Sau khi lƣ̀ a đảo chiếm đoạt đƣợc tài sản trên , Hg mang về phòng trọ rồi đăng thông tin và bán 02 chiếc cần câu lên mạng xã hội Facebook cho 02 ngƣời không quen biết (01 ngƣời ở Hà Giang, 01 ngƣời ở Hà Nội) đƣợc tổng số tiền 8.500.000 đồng, Hg đa sƣ̃ ̉ du ̣ng vào mu ̣c đich tiêu xài cá nhân hết số tiền.

́

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 251/HĐĐGTS ngày 11 tháng 10 năm 2020 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố Thái Nguyên kết luận: 01 chiếc cần câu nhan hiê ̣̃

u Daiwa Cast’izm27-385 loại ba khúc, màu sơn cam, đã qua sử dụng, giá trị 6.000.000 đồng; 01 chiếc cần câu nhan hiê ̣̃

u Daiwa Tournament TPT 27-405 loại rút, màu sơn đỏ , đã qua sử dụng, giá trị 4.000.000 đồng. Tổng giá trị tài sản của anh Nguyễn Quang T1 là 10.000.000 đồng

Vụ thứ hai: Khoảng 08 giờ ngày 11/3/2020, Nguyễn Văn Hg đăng nhập bằng tài khoản tên “Nguyễn Hồng Quyết” trên điện thoại di động nhãn hiệu IPhone 5S, màu vàng của H g truy câ ̣p vào trang Facebook “Hô ̣i mua bán dƣợc liê ̣u” thấy tài khoản Facebook tên “Q Nhƣ” (sau xác định là chị Lê Thi ̣ Nhƣ Q, sinh năm 1988, Nơi thƣờng trú: xóm T, xã D, huyện T, HN) đăng bài bán củ tam thất và nu ̣ hoa tam thất khô. Hg chủ đô ̣ng nhắn tin qua ƣ́ ng du ̣ng Messenger cho chị Q để hỏi mua củ tam thất và nu ̣ hoa tam thất khô . Sau khi trao đổi, Hg đă ̣t mua tổng cô ̣ng 35kg củ tam thất loa ̣i 60 củ/1kg vớ i giá 900.000 đồng/01 kg và 05 kg nu ̣ hoa tam thất khô vớ i giá 600.000 đồng/01 kg, tổng số tiền của số hàng trên là 34.500.000 đồng. Hg và chị Q thống nhất thanh toán tiền bằng hinh thƣ́ c

̀ gƣ̉ i hàng qua xe khách , khi xe khách giao hàng thì H g sẽ gửi tiền cho chủ xe khách, Hg gƣ̉ i cho chi ̣ Q đi ̣a chỉ, tên ngƣờ i nhâ ̣n là Nguyễn Hồng Quy ết, nơi nhâ ̣n hàng là ta ̣i bến xe khách Thái Nguyên và số điê ̣n thoa ̣i liên l

ạc là 0984.156.449 (đây là số sim rác H g mua để sƣ̉ du ̣ng vào mu ̣c đich lƣ̀ a đảo

́ chiếm đoa ̣t tài sản).

Khoảng 12 giờ 45 phút ngày 12/3/2020, chị Q mang số hàng Hg đặt mua ra quốc lô ̣ 21 và gửi xe khách BKS 20B-02226, chạy tuyến Vân Đình - Thái Nguyên. Khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày, chị Q sƣ̉ du ̣ng số điê ̣n thoa ̣i 0973.187.782 gọi điê ̣n thoa ̣i cho Hg qua số điê ̣n thoa ̣i 0984.156.449 để thông báo hàng đã đƣợc gửi xe khách chuyển đi, Hg lấy lý do đang ở Bắc Ka ̣n không nhâ ̣n đƣợc hàng nên để nghị thay đổi phƣơng thức thanh toán tiền sang chuyển tiền qua tài khoản ngân hàng, chị Q đồng ý. Chị Q gửi cho Hg số tài khoản 1500216987866, Ngân hàng Agribank chi nhánh Hà Nô ̣i, chủ tài khoản là Nguyễn Văn Hiệp cho Hg.

Khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày , Hg go ̣i điê ̣n thoa ̣i cho chi ̣ Q nói muốn thay đổi đi ̣a điểm nhâ ̣n hàng tƣ̀ b ến xe khách Thái Nguyên sang nhận tại ngã ba Tích Lƣơng, thành phố Thái Nguyên, đồng thời Hg gƣ̉ i ảnh chu ̣p phòng giao di ̣ch của ngân hàng Vietinbank (do Hg tải trên mạng internet) để chị Q nghĩ Hg đang ra ngân hàng chuyển tiền. Sau đó, Hg tự ghi các nội dung chuyển số tiền 34.500.000 đồng đến số tài khoản 1500216987866, Ngân hàng Agribank chi nhánh Hà Nô ̣i , tên ngƣời nhận là Nguyễn Văn Hiệp, tên ngƣờ i gƣ̉ i là Nguyễn Hồng Quyết vào giấy chuyển tiền đã xin đƣợc đồng thời ký tên Nguyễn Hồng Quyết vào phần “Ngƣời nộp tiền”, dùng dấu “NHTMCP CÔNG THƢƠNG VIỆT NAM CHI

̃ THU TIỀ NHÁNH BẮC SƠN ĐA

N ” đóng vào giấy nộp tiền, dùng dấu tên “Nguyễn Thi ̣ Hằng” đóng vào phần “Kiểm soát viên” và Hồng chụp ảnh lại. Hồng điều khiển xe mô tô nhan hiê ̣̃

u YAMAHA AIRBLADE, màu đen, BKS: 20L7 – 8111 đến khu vực Ngã ba Tích Lƣơng , thành phố Thái Nguyên để đợi xe khách chuyển hàng, tại đây Hg đa gƣ̃ ̉ i ảnh giấy nộp tiền mà Hg làm giả cho chi ̣ Q.

Sau khi xem ảnh giấy nộp tiền, chị Q tƣởng Hg đã chuyển tiền cho mình thật nên đã đồng ý bảo nhà xe giao hàng cho Hg, khoảng 16 giờ cùng ngày Hg nhận đƣợc hàng, sau đó mang số tam thất về phòng trọ và đăng thông tin bán số tam thất lên trang Facebook “Hội mua bán dƣợc liệu”, sau đó Hg đã bán số tài sản trên cho 01 ngƣời không quen biết (không rõ lai lịch địa chỉ) với giá 18.500.000 đồng, số tiền bán tam thất Hg đa sƣ̃ ̉ du ̣ng vào mu ̣c đich tiêu xài cá nhân hết.

́

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 249/HĐĐGTS ngày 09 tháng 10 năm 2020 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố Thái Nguyên kết luận: 35 kg củ tam thất loại 60 củ/01kg, giá trị thời điểm mất là 28.000.000 đồng; 05 kg nụ hoa tam thất khô loại 600.000 đ/01 kg, giá trị tại thời điểm mất là 3.000.000 đồng. Tổng tài sản bị cáo thực hiện trong vụ án này là 31.000.000 đồng.

Vụ thứ ba: Khoảng 21 giờ 15 phút ngày 12/3/2020, Nguyễn Văn Hg sử dụng tài khoản “Nguyễn Hồng Quyết” truy cập vào trang Facebook “Dƣợc liê ̣u Viê ̣t Nam” thấy tài khoản Fa cebook “Quỳnh Ng 1” (sau xác định là chị Đỗ Thị Ng1, sinh năm 1996, HKTT: Thôn T, xã PH, huyện B, tỉnh LC) đăng bài bán cây đinh lăng đã chủ động nhắn tin qua ƣ́ ng du ̣ng Messenger hỏi mua cây đin h lăng và nu ̣ tam thất của chị Ng1. Sau khi thỏa thuận, Hg đă ̣t mua của chi ̣ Ng 1 40kg nu ̣ tam thất khô, loại có cuống với giá 640.000 đồng/01kg, đồng thời thống nhất giao hàng bằng hình thức gửi hàng qua xe khách, trƣớc khi nhận hàng thì Hg sẽ chuyển tiền qua tài khoản ngân hàng cho chị Ng1. Hg gửi cho chị Ng1 địa chỉ, tên ngƣời nhận là Nguyễn Hồng Quyết, địa điểm nhận hàng là Sóc Sơn, Hà Nội với số điện thoại liên hệ 0984.156.449. Chị Ng1 gửi cho Hg số tài khoản 8806205095067 của Ngân hàng A chi nhánh Bắc Hà, Lào Cai, chủ tài khoản là Đỗ Thị Ngọc T (là tài khoản của chị gái ruột chị Ng1) để Hng chuyển tiền.

Khoảng 9 giờ 45 phút ngày 13/3/2020, chị Ng1 gƣ̉ i 40kg nu ̣ tam thất khô lên xe khách ch ạy tuyến Lào Cai - Thái Nguyên và g ọi điện cho Hg thông báo đã gửi hàng. Khi xe chạy đến Sóc Sơn, Hà Nội thì Hg lấy lý do đang bận họp không ra lấy hàng đƣợc, yêu cầu thay đổi địa điểm nhận hàng tại chợ Tây Ba Nhất, thành phố Thái Nguyên và Hg gửi ảnh chụp phòng giao dịch ngân hàng Viettinbank (do Hg tải trên mạng internet) gửi cho chị Ng1. Hg lấy giấy chuyển tiền của Ngân hàng Vietinbank tự ghi các nội dung chuyển số tiền 25.600.000 đồng đến số tài khoản 8806205095067 của Ngân hàng Agribank chi nhánh Bắc Hà, Lào Cai tên ngƣời nhận là Đỗ Thị Ngọc T, tên ngƣờ i gƣ̉ i là Nguyễn Hồng Quyết, sau đó Hg ký tên Nguyễn Hồng Quyết vào phần “Ngƣời nộp tiền”, dùng

́ NH BẮ

̃ dấu “NHTMCP CÔNG THƢƠNG VIỆT NAM CHI NHA

C SƠN ĐA

̀ THU TIÊN ” đóng vào giấy nộp tiền, dùng dấu tên “Nguyễn Thi ̣ Hằng” đóng vào phần “Kiểm soát viên” rồi Hg chụp ảnh lại gửi cho chị Ng1.

Sau khi nhận đƣợc hình ảnh giấy chuyển tiền chị Ng1 tƣởng Hg đã chuyển tiền cho mình thật nên bảo nhà xe giao hàng cho Hg, nhâ ̣n đƣợc số hàng H g mang về phòng tro ̣ đến ngày 14/3/2020, Hg sƣ̉ du ̣ng tài khoản Facebook Nguyễn Hồng Quyết đăng thông tin bán 40kg tam thất trên ma ̣ng xa hô ̣̃ i Facebook , sau đó bán cho 01 ngƣờ i không quen bi ết (không rõ lai lịch, địa chỉ) ở Vĩnh Phúc với số tiền là 14.000.000 đồng, Hg đã tiêu xài cá nhân hết số tiền trên.

Tại bản kết luâ ̣n số 262/HĐĐGTS ngày 22/10/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành ph ố Thái Nguyên k ết luận: 40kg nụ tam thất khô loại có cuống, giá trị thời điểm bị lừa đảo chiếm đoạt là 24.000.000 đồng.

Vụ thứ tƣ: Vào ngày 28/8/2020, Hg dùng điê ̣n thoa ̣i di đô ̣ng nhan hiê ̣̃

u Iphone 5s, màu vàng, số IMEI: 356961060429191, bên trong lắp sim số thuê bao 0985.403.402 sử dụng tài khoản “Pha ̣m Văn Ma ̣nh” đăng nhâ ̣p Facebook vào trang “Thanh lý tivi cũ Hà Nô ̣i” thấy tài khoản facebook “Văn Chiến” (sau xác định là anh Nguyễn Văn Ch , sinh năm 1994, HKTT: tổ dân phố S, phƣờng L, thành phố S, tỉnh TN) đăng bán 01 tivi nhan hiê ̣̃

u Sony LED KD-55X8000G, màu đen vớ i giá 12.000.000 đồng. Hg nhắn tin trên ƣ́ ng du ̣ng Messenger vớ i anh Ch để đă ̣t vấn đề mua tivi, sau đó thỏa thuận thống nhất giá 12.000.000 đồng, anh Ch yêu cầu Hg đặt cọc trƣớc 500.000 đồng và gửi cho Hg số tài khoản 9130167898888 của Ngân hàng MB chi nhánh Thái Nguyên, chủ tài khoản Nguyễn Văn Ch. Hg xin giấy chuyển tiền của Ngân hàng điền thông tin vào giấy nộp tiền với nội dung là Phạm Văn Mạnh chuyển số tiề n đặt cọc 500.000 đồng vào số tài khoản 9130167898888 của Ngân hàng MB chi nhánh Thái Nguyên, chủ tài khoản là anh Nguyễn Văn Ch, sau đó sƣ̉ du ̣ng dấu giả có khắc chƣ̃ “NGÂN HÀ NG THƢƠNG MẠI CỔ PHẦN CÔNG THƢƠNG VIỆT NAM CHI NHÁNH TUYÊN QUAN G” đóng vào giấy nô ̣p tiền , sƣ̉ du ̣ng dấu tên có chƣ̃ ký của “Nguyễn Thi ̣ Hằng” đóng vào phần “Kiểm soát viên” , tƣ̣ ký tên vào phần “Ngƣờ i nô ̣p tiền” là Pha ̣m Văn Mạnh rồi chụp ảnh gƣ̉ i ảnh giấy nô ̣p tiền trên cho anh Ch . Đồng thời Hg tới quán “Điện thoại TN” ở Số X, đƣờng Q, tổ Z, phƣờng Q, TPTN, tỉnh TN để nhờ ông Vũ Hồng Th1 (sinh năm 1959, là chủ cửa hàng) chuyển số tiền 500.000 đồng cho anh Ch với mục đích để anh Ch nghĩ việc chuyển tiền là thật.

Khoảng 17 giờ 40 phút cùng ngày, anh Ch nhận đƣợc số tiền 500.000 đồng, Hg hẹn anh Ch chuyển tivi cho Hg vào ngày 31/8/2020 với tên ngƣời nhận là Phạm Văn Mạnh, địa điểm nhận hàng là Chợ Mới, Bắc Kạn, số điện thoại liên hệ 0369.125.987. Đến sáng ngày 31/8/2020, anh Ch gửi cho Hg số tài khoản 105006574989 của Ngân hàng Vietinbank chi nhánh Thái Nguyên, chủ tài khoản là Nguyễn Văn Ch và bảo Hg chuyển tiền vào tài khoản đó của anh Ch, Hg thỏa thuận chuyển địa điểm nhận hàng tới cầu vƣợt Đán thuộc phƣờng Thịnh Đán, thành phố Thái Nguyên. Sau đó Hg xin giấy chuyển tiền của Ngân hàng tự điền các thông tin chuyển số tiền 11.500.000 đồng cho anh Ch số tài khoản 105006574989 tại Ngân hàng Vietinbank chi nhánh Thái Nguyên, Hg ký tên Phạm Văn Mạnh vào phần “Ngƣời nộp tiền”, sử dụng dấu giả có khắc chữ “NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI ̉

̀ CÔ PHÂN CÔNG THƢƠNG VIỆT NAM CHI NHÁ NH TUYÊN QUANG” và dấu “ĐÃ THU TIỀN” đóng vào giấy nô ̣p tiền , sƣ̉ du ̣ng dấu tên có chƣ̃ ký của “Nguyễn Thi ̣ Hằng” đóng vào phần “Kiểm soát viên” và chụp ảnh lại.

Khoảng 15 giờ, Hg gọi điện thoại cho ông Đặng Xuân Ch1 (sinh năm 1959, HKTT: xóm HT, xã H, huyện Đ, tỉnh TN, làm nghề lái xe ôm) thuê ông Ch1 đến chân cầu vƣợt Đán nhận hàng (tức tivi) cho Hg. Anh Ch bảo anh Đào Trung Ng (sinh năm 1994, HKTT: tổ X, phƣờng P, TPTN, tỉnh TN) và anh Trần Văn T (sinh năm 1994, HKTT: tổ dân phố X, phƣờng T, TPTN, tỉnh TN) là 02 ngƣời cùng kinh doanh với anh Ch vận chuyển tivi đến chân cầu vƣợt Đán để giao hàng. Quá trình ông Ch nhận hàng, Hg đứng gần đó quan sát ng đồng thời gửi cho anh Ch hình ảnh phòng giao dịch của ngân hàng viettinbank (do Hg tải trên mạng internet) để anh Ch tin tƣởng. Khi anh Ng và anh T chuyển tivi đến địa điểm thì Hg gửi ảnh giấy nộp tiền do Hg làm giả với nội dung chuyển số tiền 11.500.000 đồng nêu trên cho anh Ch, do tin tƣởng Hg đa chuyển tiền cho mĩ

nh thật nên anh Ch bảo anh Ng

̀ và anh T giao hàng cho ông Ch. Sau đó, Hg yêu cầu ông Ch chở tivi đến khu vực cổng chào tổ 9, phƣờng Tân Thịnh, thành phố Thái Nguyên để nhận tivi và Hg trả cho ông Ch 50.000 đồng tiền công vận chuyển sáu đó mang tivi về phòng trọ và đăng bán chiếc tivi lên mạng xã hội facebook. Khoảng 01 tuần sau, Hg đã bán chiếc tivi cho 01 ngƣời (không rõ lai lịch địa chỉ) với giá 10.000.000 đồng, số tiền có đƣợc, Hg đã tiêu xài cá nhân hết.

Tại bản Kết luận số 230/HĐĐGTS ngày 20/9/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Thái Nguyên kết luận: 01 tivi nhãn hiệu Sony LED KD-55X8000G, đã qua sử dụng, giá trị tại thời điểm bị lừa là 8.000.000 đồng.

Vụ thứ năm: Hồi 17 giờ ngày 14/9/2020, Nguyễn Văn Hg sử dụng tài khoản “Ngô Xuân Trƣờn g” trên điê ̣n thoa ̣i di đô ̣ng nhan hiê ̣̃

u Iphone 5s đăng nhập facebook vào trang “Hô ̣i câu lu ̣c miền bắc 24/7” thấy tài khoản “Thach Nguyên” (sau xác định là anh Nguyễn Văn Th, sinh năm 1990, HKTT: Đội X, xã B, huyện P, TPHN) đăng bán 01 cần câu nhan hiê ̣̃

u Sky Cater 33-425. Hg chủ đô ̣ng nhắn tin quaứng dụng Messenger vớ i anh Th để đặt vấn đề mua cần câu, hai bên thỏa thu ận giá bán là 10.000.000 đồng đồng thời Hg chủ động nói chuyển trƣớc số tiền đặt cọc là 500.000 đồng và thống nhất phƣơng thức nhận hàng qua xe khách, khi nào nhận hàng sẽ chuyển nốt số tiền còn lại cho chủ xe khách, anh Thh đồng ý và gửi cho Hg tài khoản số 2213205315458 của Ngân hàng A chi nhánh P, HN, chủ tài khoản là anh Nguyễn Văn Th.

Khoảng 10 giờ ngày 15/9/2020, Hg xin giấy chuyển tiền rồi tƣ̣ điền thông tin với nội dung chuyển số tiền đă ̣t co ̣c

500.000 đồng t ới số tài khoản số 2213205315458 của Ngân hàng A chi nhánh P, HN, ngƣời nhận tiền là anh Nguyễn Văn Th, Hg sƣ̉ du ̣ng dấu giả có khắc chƣ̃ “NGÂN HÀ NG THƢƠNG MẠI CỔ PHẦN CÔNG THƢƠNG VIỆT NAM CHI NHÁNH TUYÊN

̃ THU TIỀ QUANG” và dấu “ĐA

N” đóng vào giấy nô ̣p tiền , sƣ̉ du ̣ng dấu tên "Nguyễn Thi ̣ Hằng " đóng vào phần "Kiểm soát viên " và ký tên Ngô Xuân Trƣờ ng vào phần “Ngƣờ i nô ̣p tiền” r ồi chụp ảnh lại gửi ảnh giấy chuyển tiền trên cho anh Th đồng thời Hg tới quán “Điện thoại TN” ở Số X, đƣờng Q, tổ Z, phƣờng Q, TPTN, tỉnh TN để nhờ ông Vũ Hồng Th1 chuyển số tiền 500.000 đồng cho anh Th để anh Th tin tƣởng giao cần câu. Khoảng 11 giờ cùng ngày, anh Th nhận đƣợc số tiền 500.000 đồng, đến 13 giờ ngày 15/9/2020, Hg tiếp tục tƣ̣ điền thông tin vào v ới nội dung chuyển số tiền 9.500.000 đồng tới số tài khoản 2213205315458 của Ngân hàng A chi nhánh P, HN, ngƣời nhận tiền là anh Nguyễn Văn Th. Hg sƣ̉ du ̣ng dấu giả có khắc chƣ̃ “NGÂN HÀ NG

̉

̀ THƢƠNG MẠI CÔ PHÂN CÔNG

THƢƠNG VIỆT NAM CHI NHÁ NH

̃ THU TIỀ

TUYÊN QUANG”, dấu “ĐA

N” đóng vào giấy nô ̣p tiền , sƣ̉ du ̣ng dấu tên có chƣ̃ ký “Lê Thi ̣ Hà” đóng vào phần “Kiểm soát viên” và ký tên vào phần “Ngƣờ i nô ̣p tiền” là Ngô Xuân Trƣờ ng r ồi chụp ảnh lại. Hg gọi điện cho anh Th lấy lý do đang ở Tuyên Quang không về nhận hàng đƣợc nên nhờ chú của Hg ra nhận hộ, địa điểm nhận là ở cầu vƣợt Đán, thuộc phƣờng Thịnh Đán, thành phố Thái Nguyên và bảo anh Th là Hg muốn thay đổi phƣơng thức thanh toán sang chuyển tiền qua tài khoản ngân hàng, anh Th đồng ý.

Sau đó Hg gọi điện thoại cho ông Đặng Xuân Ch1 (lái xe ôm) thuê ông Ch đến chân cầu vƣợt Đán nhận hàng (tức cần câu) cho Hg. Khoảng 15 giờ 15 phút cùng ngày, khi chuẩn bị giao hàng, Hg gƣ̉ i ảnh giấy nô ̣p tiền thể hiện đã chuyển số tiền 9.500.000 đồng do Hg làm giả nêu trên cho anh Th. Anh Th tƣở ng Hg đa ̃ chuyển tiền cho minh nên anh Th bảo nhà xe giao hàng cho ông Ch. Sau khi

̀ nhận đƣợc hàng, Hg gọi điện thoại yêu cầu ông Ch mang cần câu đến khu vực tổ 6, phƣờng Tân Thịnh, thành phố Thái Nguyên để giao hàng, Hg nhận hàng và trả cho ông Ch1 60.000 đồng tiền công vận chuyển. Khi ông Ch vừa giao cần câu cho Hg thì bị tổ công tác của Đội Cảnh sát hình sự, Công an thành phố Thái Nguyên kiểm tra, phát hiện, lập biên bản sự việc, tổ công tác đã thu giữ của Hg:

- 01 cần câu nhan hiê ̣̃

u Sky Caster33-425 đƣợc đƣ̣ng trong túi vải màu xanh;

-01 điê ̣n thoa ̣i di đô ̣ng nhan hiê ̣̃

u Iphone

5S, màu vàng , số IMEI : 356961060429191, bên trong lắp sim số thuê bao 0985.403.402, đa qua sƣ̃

̉ du ̣ng;

-01 điê ̣n thoa ̣i di đô ̣ng nhan hiê ̣̃

u Goly C

7, màu xám , số IMEI : 359814077562792, bên trong lắp sim số thuê bao 0978.882.094 và sim số thuê bao 0389.958.805, đa qua sƣ̃

̉ du ̣ng.

Hồi 19 giờ ngày 15/9/2020 Cơ quan công an tiến hành khám xét nơi ở của Nguyễn Văn Hg tại tổ 6, phƣờng Tân Thịnh, thành phố Thái Nguyên, thu giữ:

- 01 dấu tròn có chữ “Ngân hàng thƣơng mại cổ phần Công thƣơng Việt Nam chi nhánh Tuyên Quang” (niêm phong ký hiệu A3);

- 01 con dấu hình chữ nhật bên ngoài có chữ “NHTMCP Công thƣơng Việt Nam chi nhánh Hƣng Yên. Đã thu tiền” (niêm phong ký hiệu A4);

- 01 con dấu hình chữ nhật bên ngoài có chữ “NHTMCP Công thƣơng Việt Nam chi nhánh Bắc Sơn. Đã thu tiền” (niêm phong ký hiệu A5);

- 01 dấu tên có chữ Phạm Thị Thúy (niêm phong ký hiệu K2);

- 01 dấu tên có chữ ký và chữ Nguyễn Thị Hằng (niêm phong ký hiệu K3);

- 01 con dấu tên có chữ ký và chữ Lê Thị Hà (niêm phong ký hiệu K4);

- 01 con dấu có chữ “Đã thu tiền” (niêm phong ký hiệu K1);

- 02 hợp đồng mua bán chim cảnh giữa Nguyễn Trọng Hg và Nguyễn Văn Quang;

- 01 thẻ sim mạng 4G của Viettel, trên thẻ có ghi số điện thoại 0984156449 không còn sim;

- 01 thẻ sim mạng 4G của Viettel, trên thẻ có ghi số điện thoại 0396125987 không còn sim;

- 01 thẻ sim mạng 4G của Viettel, trên thẻ có ghi số điện thoại 0973412508 không còn sim;

-01 thẻ sim mạng 4G của Viettel, trên thẻ có ghi số điện thoại 0976353987 không còn sim;

- 01 giấy nộp tiền đề ngày 28/08/2020 (Ký hiệu A2);

- 01 giấy nộp tiền đề ngày 15/9/2020 (Ký hiệu A1);

- 01 giấy nộp tiền đề ngày 15/9/2020 (Ký hiệu A0).

Tại bản Kết luận số 229/HĐĐGTS ngày 19/9/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Thái Nguyên kết luận: 01 cần câu nhãn hiệu DW115551 Sky Caster AGS 33-425V, đã qua sử dụng, giá trị của tài sản trên là 10.000.000 đồng.

Tại Kết luận giám định số 1394/KL-KTHS ngày 25/11/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên kết luận: Chữ viết trên mẫu cần giám định (ký hiệu: A1, A2) so với chữ viết của Nguyễn Văn Hg trên mẫu so sánh (Ký hiệu: M1, M2) do cùng một ngƣời viết ra. Không có đủ cơ sở kết luận chữ ký “Trƣờng”, “Mạnh” trên mẫu cần giám định (ký iệu A1, A2) so với mẫu chữ ký của Nguyễn Văn Hg trên mẫu so sánh (Ký hiệu: M1, M2) có phải do cùng một ngƣời ký ra hay không.

Tại kết luận giám định số 1404/KL-KTHS ngày 30/11/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên kết luận:

1. Hình dấu mẫu cần giám định (ký hiệu A1, A2) so với hình dấu mẫu so sánh (ký hiệu: M1) không phải do cùng một con dấu đóng ra.

2. Hình dấu đóng ra từ con dấu cần giám định (ký hiệu: A3.1) so với hình dấu mẫu so sánh (ký hiệu M1) không phải do cùng một con dấu đóng ra.

3. Hình dấu đóng ra từ con dấu cần giám định (ký hiệu: A4.1) so với hình dấu mẫu so sánh (Ký hiệu: M2) không phải do cùng một con dấu đóng ra.

Tại bản Kết luận giám định số 151/KL-KTHS ngày 07/01/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên kết luận:

1. Hình dấu tròn đỏ trên mẫu cần giám định (Ký hiệu A0, A1, A2) so với hình dấu trên mẫu so sánh (Ký hiệu A3.1) do cùng một con dấu đóng ra.

2. Hình dấu trên mẫu cần giám định (Ký hiệu A0) so với hình dấu trên mẫu so sánh (Ký hiệu M1) không phải do cùng một con dấu đóng ra.

3. Chữ viết qua liên giấy than trên mẫu cần giám định (Ký hiệu A0) so với chữ viết trên mẫu so sánh (Ký hiệu M3, M4) do cùng một ngƣời viết ra.

4. Hình dấu có nội dung “Nguyễn Thị Hằng” trên mẫu cần giám định (A1, A2) so với hình dấu mẫu so sánh (Ký hiệu K3.1) do cùng một con dấu đóng ra.

5. Hình dấu có nội dung “Lê Thị Hà” trên mẫu cần giám định (Ký hiệu A0) so với hình dấu mẫu so sánh (Ký hiệu K4.1) do cùng một con dấu đóng ra.

6. 02 “Giấy nộp tiền” gửi giám định (Ký hiệu A1, A2) so với 02 “Giấy nộp tiền” mẫu so sánh (Ký hiệu B1, B2) do cùng một bản in in ra.

7. Hình dấu nội “ĐÃ THU TIỀN” trên mẫu cần giám định (Ký hiệu A0, A1, A2) so với hình dấu mẫu so sánh (Ký hiệu K1.1) do cùng một con dấu đóng ra.

Ngày 28/9/2020, Cơ quan điều tra tiến hành lập biên bản làm việc với Ngân hàng thƣơng mại cổ phần Công thƣơng Việt Nam chi nhánh Tuyên Quang, đại diện ngân hàng cung cấp: từ năm 2018 đến nay, Ngân hàng không có nhân viên nào tên Nguyễn Thị Hằng và Lê Thị Hà làm ở bộ phận kế toán có chữ ký nhƣ cơ quan điều tra cung cấp.

Bản cáo trạ ng số 42/CT-VKSNDTPTN ngày 05 tháng 02 năm 2021 của Viê ̣n kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên truy tố bị cáo Nguyễn Văn Hg về tô ̣i “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm b,c khoản 2 Điều 174 Bô ̣ luâ ̣t Hinh sƣ̣ và tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” theo điểm b,c

̀ khoản 2 Điều 341 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn Hg thừa nhận do muốn lừa những ngƣời bán hàng trên facebook nên đã đặt mua những con dấu trên facebook để sau khi điền thông tin trên giấy chuyển tiền thì ký và đóng dấu vào sau đó chụp ảnh gửi cho những ngƣời bán hàng để họ tin tƣởng giao hàng cho Hồng sau đó Hồng bán lấy tiền tiêu xài cá nhân nhƣ nội dung bản cáo trạng đã truy tố là đúng.

Ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên anh Nguyễn Trọng Hg xác định ngày 20/7/2020 Nguyễn Văn Hg cũng bằng hình thức đặt mua và thống nhất mua của anh 02 con chim chào mào (loại chim đột biến) với giá 54.000.000 đồng, Hồng đã chụp ảnh phiếu chuyển tiền vào tài khoản của anh làm anh tin tƣởng giao 02 con chim cho bị cáo Hồng sau đó biết mình bị lừa đến nay anh yêu cầu bị cáo Hồng phải bồi thƣờng cho anh số tiền nhƣ trên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên giữ nguyên quan điểm truy tố đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Hg phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”

Áp dụng điểm b,c khoản 2, khoản 5 Điều 174, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo Hg từ 04-05 năm tù, phạt bổ sung từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng; Áp dụng điểm b,c khoản 2 khoản 4 Điều 341, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo Hg từ 03-04 năm tù, phạt bổ sung từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng. Áp dụng Điều 55 Bộ luật hình sự tổng hợp hình phạt tù đối với bị cáo.

Trách nhiệm dân sự: áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự, Điều 357, Điều 468, Điều 589 Bộ luật dân sự, Buộc bị cáo bồi thƣờng cho các bị hại Nguyễn Quang T1 10.000.000 đồng, Lê Thị Nhƣ Q 31.000.000 đồng, Đỗ Thị Ng1 24.000.000 đồng. Đối với ti vi chiếm đoạt của anh Ch, anh Ng và anh T tuy nhiên các bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thƣờng do đó không xem xét đây là số tiền thu lời đề nghị truy thu sung ngân sách nhà nƣớc.

Xử lý vật chứng: áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy các con dấu, sim điện thoại thu giữ của bị cáo, tịch thu sung ngân sách nhà nƣớc 02 điện thoại thu giữ của bị cáo, truy thu sung ngân sách nhà nƣớc số tiền thu lời bất chính.

Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016 ngày 30/12/2016 của UBTVQH 14 Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự và dân sự sơ thẩm theo quy định.

Phần tranh luận: Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì, lời nói sau cùng bị cáo nhận thức đƣợc hành vi vi phạm của mình là sai, ăn năn hối cải về hành vi của mình, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để sớm trở thành ngƣời công dân có ích.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy nhƣ sau:

Về thủ tục tố tụng:

1.1 Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Thái Nguyên, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

1.2 Về việc vắng mặt ngƣời tham gia tố tụng: Tại phiên tòa những ngƣời bị hại Đào Trung Ng, Nguyễn Văn Ch, Trần Văn T, anh Nguyễn Quang T1, chị Lê Thị Nhƣ Q, chị Đỗ Thị Ng1 đều có đơn đề nghị vắng mặt tại phiên tòa, đối với anh Nguyễn Văn Th đã nhận lại tài sản anh không có yêu cầu bị cáo phải bồi thƣờng căn cứ Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự quyết định xét xử vắng mặt ngƣời bị hại.

Nhận định của Hội đồng xét xử về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay là khách quan, phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra phù hợp với lời khai ngƣời bị hại. Nhƣ vậy hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định: Do lƣời lao động cần có tiền để tiêu sài cá nhân nên Nguyễn Văn Hg đã đặt mua trên mạng facebook các con dấu khắc chữ

̉

̀

“NGÂN HÀ NG THƢƠNG MẠI CÔ PHÂN CÔNG THƢƠNG VI

ỆT NAM CHI NHÁ NH TUYÊN QUANG” , “NHTMCP CÔNG THƢƠNG VIỆT NAM CHI NHÁNH BẮC SƠN ĐÃ THU TIỀN”, “NHTMCP CÔNG THƢƠNG VIỆT NAM CHI NHÁNH HƢNG YÊN ĐÃ THU TIỀN”; 03 dấu tên có chữ ký của "Nguyễn Thị Hằng", "Lê Thị Hà", "Phạm Thị Thúy"; 01 dấu khắc chữ "ĐÃ THU TIỀN" và đến phòng giao dịch của Ngân hàng thƣơng mại cổ phần (TMCP) Công thƣơng Việt Nam phƣờng Thịnh Đán, thành phố Thái Nguyên xin mẫu giấy chuyển tiền của ngân hàng. Sau mỗi lần giao dịch đặt mua hàng của các bị hại thì Hg điền thông tin chuyển tiền, đóng các dấu đã đặt sẵn để các bị hại tin tƣởng Hg đã thanh toán tiền hàng và chuyển giao tài sản cho Nguyễn Văn Hg. Trong khoảng thời gian từ tháng 02/2019 đến tháng 9/2020 bằng phƣơng thức sử dụng các nick facebook ảo “Bắc Nguyễn Đinh”, “Nguyễn Hồng

̀ Quyết”, “Pha ̣m Văn Ma ̣nh” , “Ngô Xuân Trƣờ ng” sau đó lên các trang facebook tìm những ngƣời bán hàng trên mạng facebook. Sau khi hỏi mua hàng, thống nhất giá, hẹn địa điểm, phƣơng thức giao hàng đối với ngƣời bán hàng, Nguyễn Văn Hg đã điền thông tin số tiền cần chuyển, thông tin ngƣời chuyển khoản và thông tin ngƣời nhận vào giấy chuyển tiền đồng thời ký và sử dụng các con dấu đã mua đƣợc gửi cho bị hại với mục đích để bị hại tin tƣởng đã đƣợc Hg chuyển tiền nên giao tài sản sau đó Hg mang bán lấy tiền tiêu sài cá nhân, Nguyễn Văn Hg đã thực hiện lừa đảo chiếm đoạt tài sản 05 vụ nhƣ sau:

Vụ thứ nhất: Ngày 18/02/2019, Nguyễn Văn Hg đã có hành vi lừa đảo chiếm đoạt của anh Nguyễn Quang T1 01 chiếc cần câu Daiwa Cast’izm 27-385 loại ba khúc, màu cam và 01 chiếc cần câu nhan hiê ̣̃

u DaiwaTournament TPT 27-405 màu đỏ, loại rút. Sau khi lƣ̀ a đảo chiếm đoạt đƣợc tài sản trên, Hg đã bán 02 chiếc cần cho 02 ngƣời không quen biết (trong đó có 01 ngƣời ở Hà Giang, 01 ngƣời ở Hà Nội) với tổng số tiền 8.500.000 đồng và sử dụng vào mục đích tiêu xài cá nhân hết.

Qua định giá tài sản 01 chiếc cần câu Daiwa Cast’izm 27-385 loại ba khúc, màu cam trị giá 6.000.000 đồng và 01 chiếc cần câu nhan hiê ̣̃

u DaiwaTournament TPT 27-405 màu đỏ, loại rút trị giá 4.000.000 đồng, tổng giá trị tài sản bị cáo lừa đảo anh T1 là 10.000.000đ.

Vụ thứ hai: Ngày 12/3/2020, Nguyễn Văn Hg đã lừa đảo chiếm đoạt đƣợc của chị Lê Thi ̣ Nhƣ Q 35kg củ tam thất loa ̣i 60 củ/1kgtrị giá 28.000.000 đồng và 05 kg nu ̣ hoa tam thất khô trị giá 3.000.000 đồng. Sau khi lƣ̀ a đảo chiếm đoạt đƣợc tài sản trên, Hg đã bán đƣợc số tài sản trên cho 01 ngƣời không quen biết (không rõ lai lịch địa chỉ) với giá 18.500.000 đồng và tiêu sài cá nhân hết. Tổng giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt của chị Q qua định giá là 31.000.000 đồng.

Vụ thứ ba: Ngày 13/3/2020 Nguyễn Văn Hg đã lừa đảo chiếm đoạt đƣợc của chị Đỗ Thị Ng 1 40kg nu ̣ tam thất khô trị giá 24.000.000 đồng. Sau khi lƣ̀ a đảo chiếm đoạt đƣợc tài sản, Hg đã bán số tài sản trên cho 01 ngƣờ i không quen biết (không rõ lai lịch, địa chỉ) ở Vĩnh Phúc v ới số tiền là 14.000.000 đồng và tiêu sài cá nhân hết.

Vụ thứ tƣ: Ngày 28/8/2020 sau khi liên hệ mua 01 chiếc tivi nhan hiê ̣̃

u Sony LED KD-55X8000G, màu đen trị giá 8.000.000 đồng (là tài sản chung của anh Ch, anh Ng và anh T) Hg đã điền thông tin vào giấy chuyển tiền sau đó sử dụng các dấu giả đóng xác nhận và Giấy chuyển tiền cho anh Nguyễn Văn Ch, sau đó chụp hình ảnh Giấy chuyển tiền gửi cho anh Chn đồng thời đến cửa hàng “Điện thoại TN” nhờ chuyển số tiền 500.000 đồng đặt cọc cho anh Ch. Ngày 31/8/2020, Nguyễn Văn Hg tiếp tục điền thông tin vào giấy chuyển tiền sau đó sử dụng các dấu giả đóng xác nhận và chụp ảnh gửi cho anh Ch để anh Ch tin tƣởng đồng ý để anh Đào Trung Ng và anh Trần Văn T giao tài sản là chiếc ti vi trên cho Hg. Sau đó Hg đã bán chiếc tivi cho 01 ngƣờ i không quen biết (không rõ lai lịch, địa chỉ) với giá 10.000.000 đồng. Số tiền này Hg đa sƣ̃ ̉ du ̣ng tiêu xài cá nhân hết.

Vụ thứ năm: Bằng hình thức lừa đảo nhƣ của anh Nguyễn Văn Ch, ngày 15/9/2020, Nguyễn Văn Hg đã lừa đảo chiếm đoạt đƣợc của anh Nguyễn Văn Th 01 cần câu nhan hiê ̣̃

u Sky Cater 33-425 trị giá 10.000.000 đồng. Sau đó Hg đã thuê ngƣời lái xe ôm là ông Nguyễn Văn Ch1 đi nhận hàng, khi bị cáo đang nhận cần câu từ ông Đặng Văn Ch thì bị bắt giữ.

Do không có nghề nghiệp, với mục đích chiếm đoạt tài sản của các bị hại Nguyễn Văn Hg đã đƣa ra thông tin gian dối đã chuyển khoản số tiền mua tài sản cho các bị hại để bị hại giao tài sản cho bị cáo, bản thân bị cáo không có nghề nghiệp và bị cáo sử dụng số tiền làm nguồn sống chính chiếm đoạt của 05 bị hại với tổng giá trị tài sản chiếm đoạt theo kết luận định giá là: 83.000.000 đồng, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” với các tình tiết tăng nặng định khung hình phạt tại điểm b, c khoản 2 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015. Với hành vi 03 lần làm giả 03 giấy nộp tiền của Ngân hàng thƣơng mại cổ phần công thƣơng Việt Nam trong các ngày 28/8/2020, ngày 31/8/2020 và ngày 15/9/2020 để lừa đảo chiếm đoạt tài sản của ngƣời khác hành vi của bị cáo đã phạm vào tội "Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức " theo quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 341 Bộ luật hình sự.

Xét tính chất, mức độ, hành vi của bị cáo thấy: Tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo không chỉ xâm phạm trực tiếp đến tài sản của công dân đƣợc pháp luật bảo vệ mà còn xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính, đến sự hoạt động bình thƣờng và uy tín của các cơ quan, tổ chức, ảnh hƣởng xấu đến an ninh trật tự, do vậy cần có mức án nghiêm minh, tƣơng xứng với hành vi của bị cáo đã gây ra để có đủ thời gian cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

Xét nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy: Trong quá trình điều tra cũng nhƣ tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, bị hại anh Ng, anh Ch, anh T có đơn xin xét xử vắng mặt đồng thời đề nghị xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự, do đó Hội đồng xét xử xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.

Trách nhiệm dân sự: Đối với các tài sản chƣa thu hồi đƣợc các bị hại yêu cầu bị cáo phải bồi thƣờng, do đó cần buộc bị cáo bồi thƣờng giá trị tài sản đã chiếm đoạt theo giá của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự cụ thể: Buộc bồi thƣờng cho anh Nguyễn Quang T1 10.000.000 đồng (Mƣời triệu đồng); Chị Lê Thị Nhƣ Q 31.000.000 đồng (Ba mƣơi mốt triệu đồng); chị Đỗ Thị Ng1 24.000.000đồng (Hai mƣơi tƣ triệu đồng). Đối với tài sản là chiếc cần câu của anh Nguyễn Văn Th hiện cơ quan điều tra đã thu hồi trả lại cho anh Th đồng thời anh Th không có yêu cầu bồi thƣờng về dân sự nên không đặt ra xem xét. Đối với chiếc ti vi chiếm đoạt ngày 31/8/2020, bị cáo đã bán chiếu ti vi trên đƣợc 10.000.000 đồng, đây là tài sản chung của anh Nguyễn Văn Ch , anh Đào Trung Ng và anh Trần Văn T tuy nhiên các bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thƣờng, xác định đây là số tiền thu lời bất chính do đó trừ số tiền 500.000 đồng bị cáo đã chuyển cho anh Ch truy thu sung ngân sách nhà nƣớc số tiền còn lại.

Hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định "Ngƣời phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng...." và khoản 4 Điều 341 Bộ luật hình sự 2015 quy định "Ngƣời phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng", bị cáo làm giả tài liệu với mục đích lừa đảo chiếm đoạt tài sản, do đó Hội đồng xét xử xem xét phạt bổ sung bị cáo một khoản tiền sung ngân sách nhà nƣớc về tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo về tội "Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức".

Xử lý vật chứng: Đối với 01 điê ̣n thoa ̣i di đô ̣ng nhan hiê ̣̃

u Iphone 5S; 01 điê ̣n thoa ̣i di đô ̣ng nhan hiê ̣̃

u Goly C 7 thu giữ, bị cáo xác định sử dụng vào việc lừa đảo chiếm đoạt tài sản nên sung ngân sách nhà nƣớc, các con dấu, thẻ sim và tài liệu khác tịch thu tiêu hủy.

Ngoài thực hiện 05 vụ lừa đảo trên ngày 20/7/2020 Nguyễn Văn Hg còn lừa đảo chiếm đoạt đƣợc 02 con chim chào mào (loại chim đột biến) của Nguyễn Trọng Hg, tại Bản kết luận định giá tài sản số 249/HĐĐGTS ngày 09/1/2020 đã kết luận: Hội đồng từ chối định giá do trong hồ sơ, tài liệu của cơ quan cảnh sát điều tra công an thành phố Thái Nguyên cung cấp thì tài sản nêu trên không thu giữ đƣợc, không cung cấp đƣợc mẫu tài sản tƣơng tự, không có hóa đơn, chứng từ mua bán do vậy tại thời điểm định giá Hội đồng định giá tài sản không đủ căn cứ, điều kiện cần thiết để tiến hành định giá. Do đó không có căn cứ để xử lý trách nhiệm hình sự trong vụ án này, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 30 Bộ luật tố tụng hình sự tách phần yêu cầu của anh Hƣng ra giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự.

Ngoài 03 lần làm giả Giấy nộp tiền của Ngân hàng TMCP Công thƣơng Việt Nam nhƣ trên, Hg còn khai nhận làm 05 giấy nộp tiền trong các vụ "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" xảy ra ngày 18/2/2019, ngày 11/3/2020, ngày 12/3/2020, ngày 20/7/2020 tuy nhiên bị cáo Hg đã tiêu hủy các tài liệu trên, cơ quan điều tra không thu thập đƣợc nên không có căn cứ xem xét.

Về nguồn gốc các con dấu bị thu giữ khi khám xét nơi ở của bị cáo Nguyễn Văn Hg, bị cáo khai mua của ngƣời không quen biết (không rõ lai lịch địa chỉ) trên mạng xã hội facebook, Hội đồng xét xử kiến nghị cơ quan điều tra tiếp tục điều tra làm rõ.

Đối với ông Đặng Xuân Ch1 là ngƣời bị cáo Hg thuê nhận hàng và vận chuyển các tài sản do Hg lừa đảo của các bị hại, tuy nhiên quá trình điều tra xác định ông Ch1 không biết đó là những tài sản do Hg phạm tội mà có nên Hội đồng xét xử không xem xét xử lý.

Đối với ông Vũ Hồng Th1 là ngƣời đƣợc bị cáo Hg nhờ 02 lần chuyển số tiền đặt cọc 500.000 đồng cho anh Nguyễn Văn Ch và anh Nguyễn Văn Th tuy nhiên quá trình điều tra xác định ông Th1 không biết việc bị cáo Hg chuyển tiền với mục đích để chiếm doạt tài sản nên Hội đồng xét xử không xem xét xử lý.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự và dân sự sơ thẩm; Bị cáo, bị hại đƣợc quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Mức án mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị tại phiên tòa xét thấy là phù hợp, đƣợc chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

Căn cứ Điều 326 Bộ luật tố tụng hình sự

QUYẾT ĐỊNH

[1] Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Hg phạm tô ̣i “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và "Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức"

[2] Về hình phạt: Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 174; Điều 38; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn Hg 04 (bốn) năm tù.

Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 341; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Hg 03 năm 06 tháng (ba năm sáu tháng) tù.

Áp dụng Điều 55 Bộ luật hình sự tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 07 năm 06 tháng (bẩy năm sáu tháng) tù cho cả 02 tội, thời hạn tù tính từ ngày 18/12/2020 (đƣợc trừ thời gian tạm giam từ ngày 18/9/2020 đến ngày 17/12/2020).

Căn cứ Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự, Quyết định tạm giam bị cáo Nguyễn Văn Hg 45 (Bốn mƣơi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

[3] Về hình phạt bổ sung: áp dụng khoản 5 Điều 174 Bộ luật hình sự phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Văn Hg 15.000.000 đồng (mƣời năm triệu đồng) sung ngân sách nhà nƣớc.

[4] Trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự, Điều 357, 468, 589 Bộ luật dân sự. Buộc bị cáo Nguyễn Văn Hg phải bồi thƣờng cho các bị hại tổng số tiền là 65.000.000 đồng (sáu mƣơi năm) triệu đồng, cụ thể: bồi thƣờng cho anh Nguyễn Quang T1 10.000.000 đồng (Mƣời triệu đồng); Chị Lê Thị Nhƣ Q 31.000.000 đồng (Ba mƣơi mốt triệu đồng); chị Đỗ Thị Ng1 24.000.000đồng (Hai mƣơi tƣ triệu đồng).

Về lãi suất: Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, ngƣời có quyền thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho ngƣời đƣợc thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại các Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự.

Trƣờng hợp bản án đƣợc thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì ngƣời đƣợc thi hành án dân sự, ngƣời phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án tự nguyện hoặc bị cƣỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,9 Luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án đƣợc thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.

[5] Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a,b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự 2015; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

[5.1] Tịch thu tiêu hủy:

-01 (một) dấu khắc chữ “NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI CỔ PHẦN CÔNG THƢƠNG VIỆT NAM CHI NHÁNH TUYÊN QUANG”, đã qua sử dụng.

- 01 dấu khắc chữ “NHTMCP CÔNG THƢƠNG VIỆT NAM CHI NHÁNH HƢNG YÊN ĐÃ THU TIỀN”, đã qua sử dụng.

- 01 (một) dấu khắc chữ “NHTMCP CÔNG THƢƠNG VIỆT NAM CHI NHÁNH BẮC SƠN ĐÃ THU TIỀN”, đã qua sử dụng.

- 01 (một) dấu tên có chữ ký của Nguyễn Thị Hằng, đã qua sử dụng; 01 (một) dấu tên có chữ ký của Lê Thị Hà, đã qua sử dụng; 01 (một) dấu tên Phạm Thị Thúy, đã qua sử dụng; 01 (một) dấu khắc chữ “ĐÃ THU TIỀN”, đã qua sử dụng.

- 01 (một) thẻ sim mạng 4G của Viettel, trên thẻ có ghi số điện thoại 0984.156.449, không còn sim; 01 (một) thẻ sim mạng 4G của Viettel, trên thẻ có ghi số điện thoại 0396.125.987 không còn sim; 01 (một) thẻ sim mạng 4G của Viettel, trên thẻ có ghi số điện thoại 0973.412.508 không còn sim; 01 (một) thẻ sim mạng 4G của Viettel, trên thẻ có ghi số điện thoại 0976.353.987 không còn sim.

* Tịch thu sung ngân sách: 01 (một) điê ̣n thoa ̣i di đô ̣ng nhan hiê ̣̃

u Iphone 5s, màu vàng , số IMEI : 356961060429191, bên trong lắp sim số thuê bao 0985.403.402, đa qua sƣ̃

̉ du ̣ng ; 01(một) điê ̣n thoa ̣i di đô ̣ng nhan hiê ̣̃

u Goly C 7, màu xám , số IMEI : 359814077562792, bên trong lắp sim số thuê bao 0978.822.094 và sim số thuê bao 0389.958.805, đa qua sƣ̃

̉ du ̣ng.

* Truy thu của Nguyễn Văn Hg 9.500.000 đồng (Chín triệu năm trăm nghìn đồng) sung ngân sách nhà nƣớc.

(Tình trạng vật chứng nhƣ Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 215 lập ngày 19/02/2021 giữa Công an thành phố Thái Nguyên và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên).

[4] Về án phí sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH 13 ngày 25/11/2015; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Văn Hg phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 3.250.000 đồng (Ba triệu hai trăm năm mƣơi nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm sung quỹ nhà nƣớc.

[5] Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Bị cáo Nguyễn Văn Hg và ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Trọng Hg có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Các bị hại Nguyễn Văn Th, Đào Trung Ng, Nguyễn Văn Ch, Trần Văn T, Nguyễn Quang T1, Lê Thị Nhƣ Q, Đỗ Thị Ng1 có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc niêm yết.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Cỡ chữ