- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Cường- Trộm cắp TS - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Áp dụng : Khoản 1 Điều 173, điểm h, i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, các Điều 106, 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; các Điều 584, 585, 586, 589 của Bộ luật Dân sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 32…
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HÒA - TP HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 90/2021/HS-ST Ngày 26/11/2021 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HÒA - TP HÀ NỘI
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà : Ông Nguyễn Thành Trung
Các Hội thẩm nhân dân :
Ông Trần Ngọc Khang, cán bộ hưu trí huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội;
Bà Nguyễn Thị Vân, cán bộ hưu trí huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội
- Thư ký phiên toà : Bà Nguyễn Thị Kim Lành - Thư ký Toà án nhân dân huyện Ứng Hoà
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hoà tham gia phiên toà : Ông Nguyễn Thuyên - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 11 năm 2021 tại Trụ sở toà án nhân dân huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số : 91/2021/TLST-HS ngày 26 tháng 10 năm 2021 đối với bị cáo: NGUYỄN VĂN C, sinh năm 1983; nơi sinh và cư trú : Thôn D, xã Đ, huyện U, thành phố Hà Nội; quốc tịch : Việt Nam; dân tộc : Kinh; tôn giáo : Không; trình độ học vấn : 7/12; nghề nghiệp : Lao động tự do; con ông : Nguyễn Văn N, sinh năm 1956; con bà : Nghiêm Thị H, sinh năm 1959; vợ : Nguyễn Thị H, sinh năm 1983; con : Có 02 con (Lớn sinh năm 2005, nhỏ sinh năm 2007) tiền án : Không; tiền sự : Ngày 05/9/2020, bị Công an xã Đại Hùng ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi : Trộm cắp tài sản, bằng hình thức phạt tiền 1.500.000 đồng, đến nay chưa được xóa; nhân thân: Ngày 17/7/2019, bị Công an huyện Ứng Hoà xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền 1.500.000 đồng, về hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý, nộp phạt ngày 24/7/2019. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn : Cấm đi khỏi nơi cư trú và Tạm hoãn việc xuất nhập cảnh, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
1.Ngƣời bị hại : Anh Trịnh Văn B, sinh năm 1984; HKTT : Thôn, xã, huyện U, thành phố Hà Nội, vắng mặt.
2.Những ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
2.1 Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1982; trú tại : Thôn D, xã Đ, huyện U, thành phố Hà Nội, vắng mặt;
2.2 Ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1949; trú tại : Thôn D, xã Đ, huyện U, thành phố Hà Nội, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN :
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau : Khoảng 01h00’ ngày 10/6/2021 Nguyễn Văn T và Nguyễn Văn C ở cạnh nhà nhau tại thôn Du Đồng, xã Đại Hùng, huyện Ứng Hoà, thành phố Hà Nội ngồi nói chuyện về việc đi trộm cắp. T nói với Cường “đi lấy trộm sắt ở cầu Thái Bằng gần Trường cấp III Ứng Hòa B”, C đồng ý và nói “để ra xem thế nào đã”. Sau đó, T lấy xe mô tô biển kiểm soát 26H6-0986 trở C đi đến gần Trường cấp III Ứng Hòa B, thuộc địa phận thôn Đồng Xung, xã Đồng Tân, huyện Ứng Hòa, Tiến để xe máy trên đường rồi cùng C đi bộ đến lối vào Trường thì nhìn thấy 01 thanh kèo sắt hình tam giác, dài khoảng 07 mét của gia đình anh Trịnh Văn Bình ở thôn Đồng Xung, xã Đồng Tân, huyện Ứng Hòa để ở dệ đường, T và Cường mỗi người một đầu khênh thanh kèo sắt ra chỗ xe mô tô, T cho một đầu lên xe và dắt xe còn Cường bê một đầu để mang đi bán. Trên đường đi T và C thay nhau một người dắt xe, một người bê đầu thanh kèo sắt còn lại. Khi đi đến khu vực chùa Rồng, địa phận thôn Lương Đa, xã Trầm Lộng, huyện Ứng Hòa thì bị lực lượng công an xã Trầm Lộng kiểm tra phát hiện. Sau đó, đưa T và C về Công an xã Trầm Lộng để làm việc. Tại đây C và T đã khai nhận hành vi lấy trộm cắp của mình. Công an xã Trầm Lộng bàn giao đối tượng và vật chứng cho Cơ quan CSĐT- Công an huyện Ứng Hòa để xác minh, điều tra, xử lý theo quy định của pháp luật.
Vật chứng thu giữ:
- 01 khung sắt dạng hình tam giác, dài 7,7m, phần đáy rộng 70cm, phần đầu rộng 08cm, loại sắt V4 (dày 0,4cm) nặng 50 kg;
- 01 xe mô tô biển kiểm soát 26H6-0986, số khung 00354, số máy 002619.
Ngày 23/6/2021, Cơ quan CSĐT- Công an huyện Ứng Hoà ra Yêu cầu định giá số 43 đối với 01 khung sắt thu giữ trên. Tại bản kết luận định giá tài sản số 43 ngày 28/6/2021, của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện Ứng Hoà kết luận: 01 khung sắt dạng hình tam giác, dài 7,7m, phần đáy rộng 70cm, phần đầu rộng 08cm, loại sắt V4 (dày 0,4cm) nặng 50 kg, trị giá 425.000 đồng.
Với hành vi nêu trên, tại bản Cáo trạng số : 85/CT - VKS ngày 25/10/2021 Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hoà truy đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn C về tội : “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà :
- Bị cáo thừa nhận do bị nghiện chất ma túy nên đi trộm cắp để lấy tiền sử dụng ma túy;
- Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố cả về tội danh nội dung cũng như điều luật, khoản áp dụng như trong bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điều luật và mức hành phạt đối với bị cáo như sau :
Về tội danh và mức hình phạt : Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự :Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Cường phạm tội : Trộm cắp tài sản. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Cường từ 12 tháng tù đến 15 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Về trách nhiệm dân sự : Người bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu gì nên không giải quyết trong vụ án.
Về án phí và quyền kháng cáo : Căn cứ các Điều 135, 136, 331, 333 của Bộ luật hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 : Buộc bị cáo Nguyễn Văn C phải chịu 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm. Bị cáo; người bị hại và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Căn cứ vào những chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, khách quan, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo, người bị hại, những người làm chứng, người tham gia tố tụng khác .
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN :
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau :
Về tố tụng : Hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, kiểm sát viên huyện Ứng Hòa đều đã thực hiện đầy đủ, đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
Tại cơ quan điều tra cũng như phiên tòa bị cáo nhận tội như nội dung bản cáo trạng mà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hòa đã nêu; lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; người làm chứng; vật chứng thu giữ được, phù hợp với những tài liệu khác được cơ quan Cảnh sát điều tra thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận : Lợi dụng sự sơ hở trong việc quản lý tài sản của anh Trịnh Văn Bình nên vào khoảng 1h ngày 10//6/2021, Nguyễn Văn Cường và Nguyễn Văn Tiến đã lén lút thực hiện hành vi chiếm đoạt 01 thanh sắt, trọng lượng 50 kg, của anh B ở Đồng Xung, Đồng Tân. Tài sản có trị giá 425.000 đồng.
Hành hành vi nén lút chiếm đoạt tài sản có trị giá trị giá 425.000 đồng của Nguyễn Văn Cường. Mặc dù giá trị tài sản Cường chiếm đoạt dưới 2 triệu nhưng ngày 05/9/2020, bị cáo Nguyễn Văn C đã bị Công an xã Đại Hùng ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền 1.500.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản, tính đến ngày phạm tội chưa được xóa, đối chiếu với quy định của pháp luật thì hành vi của bị cáo đã cấu thành tội : Trộm cắp tài sản, vi phạm khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự, vì vậy Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hoà truy tố bị cáo về tội danh, điều khoản luật áp dụng như nêu trong bản Cáo trạng là có căn cứ đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, làm mất trật tự trị an tại địa phương. Bi cáo có nhân thân xấu đã 02 lần bị xử phạt hành chính về các hành vi : Trộm cắp tài sản và Tàng trữ trái phép chất ma túy. Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận do nghiện ma túy nên đi trộm để lấy tiền sử dụng ma túy. Vì vậy cần phải áp dụng mức hình phạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định, phù hợp với tính chất và mức độ hành vi phạm tội, đủ để cải tạo bị cáo và răn đi phòng người tội phạm. Mặt khác cũng để ổn định tình hình trộm cắp cũng chính trị ở địa phương. Hơn nữa, cũng tạo cơ hội cho bị cáo có thời gian cai nghiện trong trại giam sau khi trở về trở thành người hữu ích cho gia đình và xã hội.Tuy nhiên Hội đồng xét xử cũng xem xét đến các tình tiết : Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; tài sản đã được thu hồi trả cho người bị hại nên gây thiệt hại không lớn là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự mà Hội đồng xét xử xem xét khi quyết định hình phạt.
Về hình phạt bổ sung : Hoàn cảnh gia đình khó khăn nên tòa không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Đối với Nguyễn Văn Tiến, ngày 10/6/2021 có hành vi cùng Nguyễn Văn C trộm cắp tài sản có giá trị dưới mức tối thiểu Luật hình sự quy định, bản thân Tiến không có tiền án, tiền sự về tội này hoặc loại tội chiếm đoạt tài sản. Do vậy, hành vi của T chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm nên ngày 13/8/2021, Cơ quan Công an huyện Ứng Hòa Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với T là đúng pháp luật.
Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng :
7.1 Về thanh sắt bị cáo chiếm đoạt, sau khi xác định được chủ sở hữu tài sản, ngày 13/8/2021, Cơ quan CSĐT- Công an huyện Ứng Hoà ra Quyết định xử lý vật chứng số 65 bằng hình thức trả lại anh Trịnh Văn B, anh Bình nhận lại tài sản, do không thiệt hại nên không yêu cầu bị cáo phải bồi thường;
7.2 Đối với xe mô tô biển kiểm soát 26H6-0986; số khung 00354; số máy: 002619 mà anh T và bị cáo sử dụng đi trộm cắp : Quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của ông Nguyễn Văn L (Bố Nguyễn Văn T) việc T lấy xe sử dụng đi Trộm cắp tài sản ông L không biết. Tra cứu chiếc xe trên không liên quan đến vật chứng đến vụ án khác. Do đó, ngày 13/10/2021 Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 42 bằng hình thức trả lại ông Nguyễn Văn Lệ là có căn cứ, đúng pháp luật.
Về án phí, quyền kháng cáo : Theo Điều 135;136; 331; 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phi và lệ phi ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội : Bị cáo phải chịu 200.000đồng án phí Hình sự sơ thẩm; bị cáo, người bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH :
Áp dụng : Khoản 1 Điều 173, điểm h, i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, các Điều 106, 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; các Điều 584, 585, 586, 589 của Bộ luật Dân sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
1. Tuyên bố bị cáo : Nguyễn Văn C phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
2. Về hình phạt : Xử phạt Nguyễn Văn C 07 (Bẩy) tháng tù, thời điểm chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
3. Trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng, xác nhận :
- Người bị hại anh Trịnh Văn B đã nhận lại tài sản là 01 khung sắt dạng hình tam giác, dài 7,7m, phần đáy rộng 70cm, phần đầu rộng 08cm, loại sắt V4 (dày 0,4cm) nặng 50 kg và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường dân sự;
- Ông Nguyễn Văn L đã nhận xe mô tô biển kiểm soát 26H6-0986; số khung 00354; số máy: 002619 và không yêu cầu gì.
4. Về án phí : Buộc bị cáo Nguyễn Văn C phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn) đồng án phí Hình sự sơ thẩm.
5.Về quyền kháng cáo : Bị cáo; người bị hại; những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án đối với bị cáo. Kể từ ngày Bản án được niêm yết tại trụ sở Ủy ban nhân dân nơi thường trú hoặc giao hợp lệ đối với anh Nguyễn Văn T và ông Nguyễn Văn L (Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chỉ được quyền kháng cáo liên quan trực tiếp đến quyền lợi của mình)./.
| Nơi nhận : - TANDTP Hà Nội; - VKSND; Công an huyện Ứng Hòa; - Chi cục T.H.ADS huyện Ứng Hoà; - Bị cáo;người bị hại; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - Niêm yết tại UBND xã Đại Hùng, Ứng Hòa,Hà Nội; - Lưu : Hồ sơ vụ án; VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn Thành Trung |