vanban.org

Bản án 90/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La Tuyên án 20/09/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Đinh Văn B phạm Tội trộm cắp tài sản.

Xử phạt bị cáo Đinh Văn B 15 (Mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày: 11/6/2021. Tuyên bố bị cáo Vì Lương A phạm Tội trộm cắp tài sản. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án Đinh Văn B - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đinh Văn B phạm Tội trộm cắp tài sản.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÙ YÊN
TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 90/2021/HS-ST
Ngày 20-9-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ YÊN, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Đức.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Lý Thị Dung.

2. Bà Lê Thị Bống.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Khánh Hòa -Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thị Thùy Ngân - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 9 năm 2021 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 92/2021/TLST-HS ngày 13 tháng 8 năm 2021; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 89/2021/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 9 năm 2021 đối với các bị cáo:

1. Vì Lương A (tên gọi khác: không), sinh ngày 16 tháng 3 năm 1998; Nơi cư trú: Bản B, xã HH, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): 09/12; dân tộc: Mường; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Đảng phái, đoàn thể: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vì Văn U, sinh năm 1966, con bà Lường Thị T, sinh năm 1967; bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Ngày 19/4/2021, UBND xã HH, huyện Phù Yên áp dụng biện pháp giáo dục tại xã về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 14/6/2021; Có mặt.

2. Đinh Văn B (tên gọi khác: không), sinh ngày 09 tháng 01 năm 2001; Nơi cư trú: Bản B, xã HH, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): 10/12; dân tộc: Mường; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Đảng phái, đoàn thể: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đinh Văn V, sinh năm 1980, con bà Đinh Thị Kh, sinh năm 1984; bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 11/6/2021; Có mặt.

- Bị hại:

1. Ông Đinh Văn C, sinh năm 1979; Nơi cư trú: Bản B, xã HH, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La. Có mặt.

2. Anh Vì Văn D, sinh ngày 17/7/2004; Nơi cư trú: Bản B, xã HH, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La. Có mặt.

Người đại diện hợp pháp cho bị hại: Ông Vì Văn H (là bố đẻ của bị hại), sinh năm 1975; Nơi cư trú: Bản B, xã HH, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La. Vắng mặt.

3. Anh Đinh Văn E, sinh ngày 21/5/ 2005; Nơi cư trú: Bản B, xã HH, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La. Vắng mặt.

Người đại diện hợp pháp cho bị hại: Ông Đinh Văn Th (là bố ruột của bị hại), sinh năm 1982; Nơi cư trú: Bản B, xã HH, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La. Vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Đoàn Văn F, sinh năm 1990; Nơi cư trú: Tiểu khu X, thị trấn Phù Yên, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La. Vắng mặt.

2. Anh Phạm Ngọc G, sinh năm 1990; Nơi cư trú: Tiểu khu Y, thị trấn Phù Yên, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La. Vắng mặt.

3. Anh Cầm Văn H, sinh năm 2001; Nơi cư trú: Bản BH, xã TP, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La. Vắng mặt.

4. Anh Mùi Văn I, sinh năm 2000; Nơi cư trú: Bản B, xã HH, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 05 tháng 6 năm 2021 Công an xã HH. huyện Phù Yên đã tiếp nhận đơn trình báo của anh Vì Văn D. Anh Vì Văn D tố giác bị cáo Đinh Văn B có hành vi chiếm đoạt tài sản là chiếc điện thoại Iphone7 Plus của anh D. Anh Vì Văn D đề nghị Cơ quan Công an điều tra, xử lý hành vi của bị cáo Đinh Văn B theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Đinh Văn B khai nhận: Trong thời gian từ 14/3/2021 đến 05/6/2021, B và Vì Lương A đã bàn bạc, rủ nhau đi trộm cắp tài sản nhiều lần, bán lấy tiền chi tiêu cá nhân, cụ thể:

Lần thứ nhất: Vào khoảng 23h ngày 25/5/2021, A và B rủ nhau đi bắt cá tại suối Tấc thuộc địa phận bản B, xã HH. Khi đi đến khu vực lán nương của Đinh Văn C, A biết ông C có 01 chiếc điện thoại di động Iphone 7 Plus nên rủ B lấy trộm điện thoại của C, B đồng ý. Hai bị cáo quan sát thấy C đang ngủ, điện thoại cắm sạc bên cạnh nên B thò tay qua khe hở của lán nương lấy được chiếc điện thoại của C còn A đứng canh gác ở cửa sổ. Sau khi lấy được điện thoại, A và B về nhà ngủ. Sáng ngày 26/5/2021, A và B mang chiếc điện thoại trộm cắp được của C bán cho anh Đoàn Văn F, là chủ cửa hàng điện thoại Thanh F được số tiền 4.000.000đ (Bốn triệu đồng). Sau đó, B lấy 2.500.000đ (Hai triệu năm trăm nghìn đồng), A lấy 1.500.000đ (Một triệu năm trăm nghìn đồng), cả hai đã chi tiêu, sử dụng cá nhân hết.

Lần thứ hai: Vào khoảng 15h ngày 05/6/2021, B đi đến hang đá Tả Thức (tiếng địa phương) thuộc bản B, xã HH, huyện Phù Yên chơi và thấy Vì Văn D, Vì Trọng J, Đinh Đặng K và Đinh Văn L đang ở trong hang đá. D, J và K đang nằm ngủ, còn L đang nằm xem điện thoại. B đi đến nằm bên cạnh K và lợi dụng lúc L xem điện thoại còn người khác đang ngủ, B đã lấy trộm chiếc điện thoại di động Iphone 7 Plus, màu hồng của Vì Văn D cho vào túi quần và ra về. Sáng ngày 06/6/2021, B mang điện thoại đã trộm cắp được của D đến bán cho anh Phạm Ngọc G, là chủ cửa hàng điện thoại GH được 3.000.000đ (Ba triệu đồng) và chi tiêu, sử dụng cá nhân hết. Sau đó, anh G đã bán lại cho Cầm Văn H với số tiền 3.500.000đ (Ba triệu năm trăm nghìn đồng).

Quá trình điều tra vụ án đã xác định: Ngày 14/3/2021, các bị cáo Vì Lương A, Đinh Văn B cùng đối tượng Mùi Văn I đi bắt cá ở suối T (thuộc địa phận bản B, xã HH). Khi đi qua nhà anh Đinh Văn E, I gọi E và hỏi mượn đèn pin rồi cùng B đi vào phòng ngủ của E để lấy đèn pin thì thấy 01 chiếc điện thoại Vivo Y12 của E đang được sạc pin ở đầu giường ngủ. I nảy sinh ý định trộm cắp chiếc điện thoại nên mở chốt cửa sổ phía đầu giường ngủ. Khi lấy được đèn pin, I cùng các bị cáo B, A tiếp tục cùng nhau đi bắt cá đến 23 giờ cùng ngày thì về. Khi về đến nhà E, I nói việc trước đó ở nhà E, I đã mở chốt cửa sổ nhằm rủ B, A đi lấy trộm. Sau đó, B móc tay qua kẽ hở của cửa sổ lấy điện thoại của E rồi cả ba đi về nhà. Đến sáng ngày 15/3/2021, các bị cáo B, A mang điện thoại đã trộm cắp được của E bán cho anh Đoàn Văn F, là chủ cửa hàng điện thoại Thanh F được số tiền 1.200.000đ (Một triệu hai trăm nghìn đồng). Sau đó, B lấy 450.000đ (Bốn trăm năm mươi nghìn đồng), A lấy 450.000đ (Bốn trăm năm mươi nghìn đồng) và chia cho I 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), số tiền trên cả ba người đã chi tiêu, sử dụng cá nhân hết.

- Ngày 11/6/2021, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Phù Yên ra Yêu cầu định giá tài sản số 137 đề nghị Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng huyện Phù Yên định giá chiếc điện thoại của anh Vì Văn D bị mất ngày 05/6/2021.

Ngày 14/6/2021, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Phù Yên ra Yêu cầu định giá tài sản số 138 đề nghị Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng huyện Phù Yên định giá chiếc điện thoại của anh Đinh Văn E bị mất ngày 14/3/2021 và chiếc điện thoại của ông Đinh Văn C bị mất ngày 25/5/2021.

Tại Kết luận định giá số 50/KLĐGTS-HĐĐGTS ngày 12/6/2021 của Hội đồng định giá xác định: Chiếc điện thoại di động Iphone 7 Plus 32GB có giá trị tại thời điểm ngày 05/6/2021 là 6.000.000đ (Sáu triệu đồng).

Tại Kết luận định giá số 52/KLĐGTS-HĐĐGTS ngày 15/6/2021 của Hội đồng định giá xác định: Chiếc điện thoại di động Iphone 7 Plus 32GB có giá trị tại thời điểm ngày 25/5/2021 là 6.000.000đ (Sáu triệu đồng) và chiếc điện thoại Vivo Y12 có giá trị tại thời điểm ngày 14/3/2021 là 1.500.000đ (Một triệu năm trăm nghìn đồng).

- Quá trình điều tra: gia đình bị cáo Đinh Văn B và bị cáo Vì Lương A đã bồi thường số tiền 6.000.000 đ (Sáu triệu đồng) cho ông Đinh Văn C và 1.500.000 đ (Một triệu năm trăm nghìn đồng) cho anh Đinh Văn E. Gia đình bị cáo Đinh Văn B đã tự nguyện đền bù số tiền 3.500.000đ (Ba triệu năm trăm nghìn đồng) cho anh Cầm Văn H. Các bị hại, người liên quan không yêu cầu bồi thường gì thêm và có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo. Đối với chiếc điện thoại của anh Vì Văn D đã được Cơ quan CSĐT Công an huyện Phù Yên đã trả lại, anh D đã nhận lại điện thoại, không yêu cầu bồi thường gì thêm và có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Đinh Văn B.

Cáo trạng số: 70/CT-VKS ngày 12/8/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Yên Quyết định truy tố các bị cáo Đinh Văn B và Vì Lương A về tội: Trộm cắp tài sản, theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Yên giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Đinh Văn B và Vì Lương A phạm tội Trộm cắp tài sản và đề nghị áp dụng các căn cứ pháp luật xử phạt các bị cáo như sau:

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s, t khoản 1, 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Đinh Văn B từ 15 (Mười lăm) đến 18 (Mười tám) tháng tù.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Vì Lương A từ 12 (Mười hai) đến 15 (Mười lăm) tháng tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Yên sẽ kiến nghị Công an huyện Phù Yên xử lý hành chính đối với các bị cáo về hành vi trộm cắp 01 chiếc điện thoại VIVO Y12 có giá trị tại thời điểm ngày 14/3/2021 là 1.500.000đ (Một triệu năm trăm nghìn đồng) của anh Đinh Văn E.

Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 584, 585, 586, 589 Bộ luật dân sự.

Ghi nhận đại diện gia đình các bị cáo đã bồi thường cho các bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Ghi nhận việc các bị hại không yêu cầu bị cáo phải có trách nhiệm bồi thường dân sự thêm khoản nào khác.

Về án phí: các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã khai trong quá trình điều tra, không có ý kiến gì tranh luận với vị đại diện Viện kiểm sát, các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Lời nói sau cùng của các bị cáo: Các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Những bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng có đơn đề nghị xét xử Vắng mặt. Xét thấy việc vắng mặt không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án, căn cứ khoản 1 Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định vẫn tiến hành xét xử.

Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Phù Yên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Yên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi của các bị cáo và trách nhiệm hình sự:

Tại phiên tòa, các bị cáo vẫn giữ nguyên lời khai tại Cơ quan điều tra, không thay đổi, bổ sung thêm nội dung gì làm thay đổi nội dung của vụ án. Các bị cáo hoàn toàn nhất trí với cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Yên. Các bị cáo khẳng định việc khai báo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay là hoàn toàn tự nguyện, đúng với sự việc các bị cáo đã gây ra.

Xét lời khai của các bị cáo là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp với biên bản lấy lời khai, biên bản hỏi cung của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Phù Yên; bản tự khai; Biên bản khám nghiệm hiện trường; Biên bản giao nhận tiền bồi thường; Kết luận định giá của hội đồng định giá; lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Từ những chứng cứ nêu trên, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Ngày 25/5/2021, các bị cáo Đinh Văn B và Vì Lương A đã có hành vi trộm cắp 01 chiếc điện thoại di động Iphone 7Plus, màu trắng bạc trị giá 6.000.000 đ (Sáu triệu đồng) của ông Đinh Văn C. Ngày 05/6/2021, bị cáo Đinh Văn B có hành vi trộm cắp 01 chiếc điện thoại di động Iphone 7Plus, màu hồng trị giá 6.000.000đ (Sáu triệu đồng) của anh Vì Văn D.

Đối với hành vi chiếm đoạt tài sản của anh Đinh Văn E có giá trị là 1.500.000đ (Một triệu năm trăm nghìn đồng) dưới mức tối thiểu truy cứu trách nhiệm hình sự, nên không áp dụng hành vi trộm cắp nhiều lần để xử lý đối với các bị cáo.

Do các bị cáo thực hiện hai lần chiếm đoạt tài sản liên tục, kế tiếp nhau về mặt thời gian, nên phải cộng dồn trị giá tài sản của các lần chiếm đoạt tài sản đối với bị cáo Đinh Văn B là 13.500.000đ (Mười ba triệu năm trăm nghìn đồng). Đối với bị cáo Vì Lương A là 7.500.000đ (Bảy triệu năm trăm nghìn đồng) để làm căn cứ xử lý đối với các bị cáo. Hành vi trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự quy định mức hình phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

Phân hoá vai trò phạm tội: Bị cáo Vì Lương A là người khởi xướng, giúp sức ở vụ thứ nhất và trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội trong vụ thứ ba, giữ vai trò chính trong vụ thứ nhất. Bị cáo Đinh Văn B trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội trong cả 03 vụ, là đồng phạm trong vụ thứ nhất và vụ thứ ba với vai trò người thực hành. Các bị cáo cố ý cùng thực hiện tội phạm do đó các bị cáo phạm tội trong trường hợp đồng phạm theo quy định tại Điều 17 Bộ luật Hình sự năm 2015, do đó khi quyết định hình phạt cần căn cứ Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 xem xét tính chất của đồng phạm, tính chất mức độ tham gia phạm tội của từng bị cáo.

Xét về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo là ít nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, các bị cáo nhận thức được việc trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, tuy nhiên lợi dụng sự sơ hở mất cảnh giác của chủ sở hữu, vẫn lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác. Tội phạm được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp, tội phạm đã hoàn thành. Hành vi phạm tội của các bị cáo xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp của cá nhân, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, do đó cần xử phạt các bị cáo với mức hình phạt nghiêm khắc nhằm giáo dục các bị cáo nói riêng và phòng ngừa chung cho xã hội.

Xét về nhân thân của bị cáo thấy rằng, bị cáo Đinh Văn B có nhân thân tốt, bản thân không có tiền án, tiền sự. Bị cáo Vì Lương A có nhân thân xấu, bản thân có 01 tiền sự: Ngày 19/4/2021, UBND xã HH, huyện Phù Yên áp dụng biện pháp giáo dục tại xã về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Do đó, hành vi phạm tội của các bị cáo cần phải bị xử lý nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo đã gây ra, cần cách ly các bị cáo ra ngoài đời sống xã hội một thời gian nhất định là cần thiết, có như vậy mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt đối với các bị cáo cũng cần xem xét các bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, sau khi phạm tội các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tích cực tác động đến gia đình để bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả và các bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Đây là các tình tiết được giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Trong quá trình điều tra, bị cáo Đinh Văn B tích cực hợp tác với cơ quan điều tra trong quá trình giải quyết vụ án, khai nhận hành vi trộm cắp tài sản khác của bị cáo Vì Lương A chưa bị phát hiện, đây là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm t khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết tăng nặng: bị cáo Đinh Văn B phạm tội 02 lần trở lên là tình tiết tăng nặng theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Quá trình điều tra và thẩm vấn công khai tại phiên tòa hôm nay thấy rằng: Bản thân các bị cáo không có công việc và thu nhập ổn định và không có tài sản gì có giá trị, đang sống phụ thuộc vào gia đình, do đó không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 584, 585, 586 và Điều 589 Bộ luật dân sự.

- Đối với việc đại diện gia đình các bị cáo Đinh Văn B và Vì Lương A đã tự nguyện thỏa thuận, thống nhất bồi thường thiệt hại số tiền 6.000.000đ (Sáu triệu đồng) cho ông Đinh Văn C và 1.500.000đ (Một triệu năm trăm nghìn đồng) cho anh Đinh Văn E. Gia đình bị cáo Đinh Văn B đã tự nguyện bồi thường số tiền 3.500.000đ (Ba triệu năm trăm nghìn đồng) cho anh Cầm Văn H. Gia đình các bị cáo đã bồi thường xong. Xét sự thỏa thuận, thống nhất trên là tự nguyện, đúng pháp luật do đó cần được ghi nhận.

- Đối với chiếc điện thoại Iphone 7Plus của anh Vì Văn D đã được Cơ quan CSĐT Công an huyện Phù Yên đã trả lại. Anh D đã nhận lại điện thoại, không yêu cầu bồi thường gì thêm. Xét là tự nguyện, đúng pháp luật do đó cần được ghi nhận.

- Đối với việc các bị hại, người có quyền lợi liên quan không yêu cầu các bị cáo phải có trách nhiệm bồi thường dân sự thêm khoản nào khác, xét là tự nguyện, đúng pháp luật do đó cần được ghi nhận.

Đối với Mùi Văn I có hành vi trộm cắp tài sản là chiếc điện thoại di động Vivo Y12 cùng các bị cáo, giá trị tài sản trộm cắp là 1.500.000đ (Một triệu năm trăm nghìn đồng). Hành vi của I là vi phạm hành chính. Ghi nhận việc Cơ quan CSĐT Công an huyện Phù Yên đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Mùi Văn I bằng hình thức phạt tiền là đúng quy định của pháp luật. Do đó không đề cập đến việc giải quyết.

Đối với anh Đoàn Văn F, Phạm Ngọc G, Cầm Văn H là những người đã mua lại điện thoại của các bị cáo. Quá trình điều tra xác định khi mua bán đều không biết là tài sản do phạm tội mà có, do vậy không không đề cập đến việc giải quyết.

Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Tiếp tục tạm giam các bị cáo để đảm bảo cho việc thi hành án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; các điểm b, i, s, t khoản 1, 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo Đinh Văn B phạm Tội trộm cắp tài sản.

Xử phạt bị cáo Đinh Văn B 15 (Mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày: 11/6/2021.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; các điểm b, i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo Vì Lương A phạm Tội trộm cắp tài sản.

Xử phạt bị cáo Vì Lương A 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày: 14/6/2021.

Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với các bị cáo.

2. Áp dụng Điều 584, 585, 586 và Điều 589 Bộ luật dân sự.

Ghi nhận việc gia đình các bị cáo Đinh Văn B và Vì Lương A đã tự nguyện thỏa thuận, thống nhất bồi thường thiệt hại số tiền 6.000.000 đ (sáu triệu đồng) cho ông Đinh Văn C và 1.500.000đ (Một triệu năm trăm nghìn đồng) cho anh Đinh Văn E.

Ghi nhận việc gia đình bị cáo Đinh Văn B đã tự nguyện bồi thường số tiền 3.500.000đ (Ba triệu năm trăm nghìn đồng) cho anh Cầm Văn H.

Ghi nhận việc anh Vì Văn D đã nhận lại điện thoại Iphone 7Plus.

Ghi nhận việc các bị hại, người có quyền lợi liên quan không yêu cầu các bị cáo phải có trách nhiệm bồi thường dân sự thêm .

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ B hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Buộc các bị cáo Đinh Văn B và Vì Lương A, mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).

4. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 20/9/2021).

Bị hại, người đại diện hợp pháp cho bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày bản án được niêm yết công khai.

Cỡ chữ