vanban.org

Bản án 90/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Nguyễn Minh T. 1. Về hôn nhân: Cho anh Nguyễn Minh T được ly hôn với chị Đặng Hồng N. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Minh T và Đặng Hồng N"
  • Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TÂN PHÚ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH ĐỒNG NAI
Bản án số: 90/2021/HNGĐ-ST
Ngày: 15-10-2021
“V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi
con khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Hồng Thạnh

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Minh Toàn.

2. Ông Phạm Công Gia.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Văn Thượng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Lại Thị Hiền - Kiểm sát viên.

Trong ngày 15 tháng 10 năm 2021, tại Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 95/2021/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 3 năm 2021, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 86/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 8 năm 2021; Thông báo thay đổi lịch xét xử số 389/TB-TA ngày 20/8/2021; Thông báo thay đổi lịch xét xử số 411/TB-TA ngày 31/8/2021; Thông báo thay đổi lịch xét xử số 443/TB-TA ngày 15/9/2021; Quyết định hoãn phiên tòa số 54/2021/QĐST-HNGĐ ngày 21/9/2021 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Minh T – sinh năm 1989.

Địa chỉ: Tổ 6, Ấp 3, xã PT, huyện TP, tỉnh ĐN.

- Bị đơn: Chị Đặng Hồng N – sinh năm 1994.

Nơi cư trú cuối cùng: Tổ 6, Ấp 3, xã PT, huyện TP, ĐN.

(Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn vắng mặt lần thứ hai)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 01 tháng 02 năm 2021 và lời khai trong quá trình thụ lý và giải quyết vụ án, nguyên đơn anh T trình bày:

- Quan hệ hôn nhân: Anh và chị N tự nguyện kết hôn vào năm 2014, có đăng ký kết hôn tại UBND xã PT, huyện TP, tỉnh ĐN. Vợ chồng sống chung hạnh phúc đến cuối năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn bất hòa do bất đồng quan điểm. Vợ chồng đã nhiều lần hòa giải nhưng không có kết quả. Từ cuối năm 2017 cho đến nay chị N không còn sinh sống tại địa phương. Do không biết hiện nay chị N ở đâu làm gì nên anh T đã thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú, Tòa án huyện Tân Phú đã tuyên bố chị N mất tích. Do tình cảm không còn, vợ chồng không còn sống chung với nhau đã lâu nên anh T yêu cầu ly hôn chị N.

- Con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Nguyễn Thiết Mộc C, sinh ngày 02/5/2013. Hiện nay cháu C do anh T trực tiếp nuôi dưỡng. Anh có công việc, thu nhập ổn định đủ điều kiện nuôi dưỡng con nên yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu C, không yêu cầu chị N cấp dưỡng nuôi con.

- Tài sản chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.

Nợ chung: Không có.

Trong thời gian chuẩn bị xét xử vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bị đơn nhưng bị đơn không đến Tòa án để làm việc, cũng không gửi, giao tài liệu, chứng cứ trình bày ý kiến của mình. Tòa án tiến hành xác minh tình trạng hôn nhân của các đương sự tại địa phương và thông báo kết quả thu thập được tài liệu, chứng cứ gửi đến các đương sự. Tòa án đã triệu tập phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Bị đơn vắng mặt, Tòa án đã Thông báo kết quả về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và tống đạt theo đúng quy định của pháp luật.

Phát biểu của Kiểm sát viên:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và đương sự đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt lần thứ hai nên đề nghị tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

Tòa án có vi phạm về thời hạn chuẩn bị xét xử vụ án.

- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị chấp nhận đơn yêu cầu khởi kiện của anh T. Về hôn nhân: Cho anh T được ly hôn với chị N. Về con chung: Giao con chung Nguyễn Thiết Mộc C, sinh ngày 02/5/2013 cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng, tạm thời chị N không phải cấp dưỡng do anh T không yêu cầu.

Về tài sản chung, nợ chung: Do không có ý kiến của bị đơn nên tách ra giải quyết bằng vụ án khác khi có yêu cầu.

Anh T chải chịu 300.000đ tiền án phí về ly hôn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa.

Áp dụng pháp luật tố tụng:

- Bị đơn có nơi cư trú cuối cùng tại xã PT, huyện TP, tỉnh ĐN nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tân Phú theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Anh T khởi kiện yêu cầu ly hôn đối với chị N; yêu cầu giải quyết việc nuôi con chung. Vì vậy, quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án được xác định là “Ly hôn, tranh chấp về việc nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Quá trình giải quyết vụ án, các đương sự đã được cấp, tống đạt, thông báo hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án. Bị đơn vắng mặt lần thứ 2 không có lý do vì vậy vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 4 Điều 207 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn vắng mặt lần thứ 2 không có lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 và điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228, 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự quyết định xét xử vụ án vắng mặt các đương sự.

Áp dụng pháp luật nội dung:

- Về hôn nhân: Anh T và chị N tự nguyện kết hôn năm 2014, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã PT, huyện TP, tỉnh ĐN.

Trên cơ sở lời khai của đương sự; tài liệu, chứng cứ Tòa án thu thập thể hiện: Trong thời gian sống chung giữa vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn không thể hòa giải, hàn gắn, do giữa vợ chồng xảy ra bất đồng quan điểm. Từ năm 2017 chị N bỏ địa phương đi cho đến nay không có tin tức, anh T đã thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú và Tòa án đã tuyên bố chị N là mất tích.

Như vậy, có đủ cơ sở để Hội đồng xét xử kết luận: Các đương sự đã vi phạm nghiêm trọng về nghĩa vụ thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ giữa vợ và chồng; vi phạm nghĩa vụ sống chung của vợ chồng được quy định tại Điều 19 của Luật hôn nhân và gia đình, làm hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung của vợ chồng không được liên tục, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, việc Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là phù hợp với quy định tại khoản 1, 2 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

- Về nuôi con: Vợ chồng có 01 con chung chưa thành niên là Nguyễn Thiết Mộc C, sinh ngày 02/5/2013. Hiện tại con chung do anh T nuôi dưỡng. Khi ly hôn anh T yêu cầu tiếp tục nuôi dưỡng các con, tạm thời không yêu cầu chị N phải cấp dưỡng nuôi con.

Qua kết quả xác minh tại địa phương nhận thấy: Từ khi chị N bỏ địa phương đi cho đến nay, con chung thực tế do anh T nuôi dưỡng, anh T có việc làm ổn định, chăm sóc nuôi dưỡng cháu rất tốt. Cháu C có nguyện vọng được sinh sống với anh T. Do đó, để ổn định cuộc sống của con chung, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của anh T, giao con chung chưa thành niên Nguyễn Thiết Mộc C cho anh T tiếp tục nuôi dưỡng. Tạm thời chị N không phải cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản, nợ chung: Nguyên đơn trình bày không có. Do không ghi nhận được ý kiến, yêu cầu của bị đơn về việc giải quyết tài sản chung nên tách ra giải quyết bằng vụ án khác khi các đương sự có yêu cầu.

Về án phí: Anh T phải chịu 300.000đ tiền án phí về ly hôn.

Xét quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

- Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 144, 147; khoản 1 và điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 235, 238, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Điều 39 của Bộ luật dân sự năm 2015;

- Các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84, 131 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Điều 89, 91, 92, 93 và 94 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000;

- Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Nguyễn Minh T.

1.1. Về hôn nhân: Cho anh Nguyễn Minh T được ly hôn với chị Đặng Hồng N.

1.2. Về con chung và cấp dưỡng nuôi con: Vợ chồng có 01 con chung chưa thành niên là Nguyễn Thiết Mộc C, sinh ngày 02/5/2013. Giao con chung Nguyễn Thiết Mộc C cho anh T tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng; tạm thời chị N không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Chị N có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của con chung, các đương sự có quyền thay đổi việc nuôi con và cấp dưỡng cho con theo quy định của pháp luật.

1.3. Về tài sản chung, nợ chung: Tách ra giải quyết bằng vụ án khác khi các đương sự có tranh chấp.

2. Về án phí: Anh Nguyễn Minh T phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn. Số tiền tạm ứng án phí anh T đã nộp 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu số 0004052 ngày 17/3/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai sẽ chuyển thành án phí.

3. Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ