- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của Ngân hàng T:
- Căn cứ chính? Điều 466 Bộ luật Dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 6 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 90/2021/DS-ST Ngày: 13 – 07 - 2021 Về việc: Tranh chấp về hợp đồng dân sự vay tài sản. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 6, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Kim Sa
- Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Lưu Ly
2. Bà Vũ Thị Hiệp
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Linh, Thư ký Toà án nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai Hương – Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh.
Trong ngày 13 tháng 7 năm 2021 tại Phòng xử án dân sự trụ sở Tòa án nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 119/2020/TLST-DS ngày 07/10/2020, về “Tranh chấp về hợp đồng dân sự vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 48/2021/QĐXXST-DS ngày 18 tháng 5 năm 2021 và quyết định hoãn phiên tòa số 31/2021/QĐST-DS ngày 15 tháng 6 năm 2021, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng T.
Địa chỉ trụ sở: đường N, Phường T, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông T – sinh năm 1973 (theo giấy ủy quyền số 309A/2020/UQ-CNTB ngày 22/7/2020) (vắng mặt – có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
- Bị đơn: Bà T T N P – sinh năm 1985 (vắng mặt).
Địa chỉ: đường P, Phường MH, Quận S, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện đề ngày 28/7/2020 của Ngân hàng T (sau đây viết tắt là Ngân hàng) cùng lời khai của ông T đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng trình bày như sau:
Bà T T N P có ký hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng bao gồm: giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng đề ngày 08/3/2016 và bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng, để vay tiền của Ngân hàng T (sau đây gọi là Ngân hàng) sử dụng vào mục đích tiêu dùng cá nhân. Căn cứ thu nhập của bà T T N P, Ngân hàng đồng ý cấp thẻ tín dụng số 486265-9242 với hạn mức sử dụng là 15.000.000 đồng. Theo bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng, hai bên thỏa thuận tiền lãi phải trả theo lãi suất do Ngân hàng quyết định (theo thông báo về lãi suất số 113/TB-TTT ngày 04/7/2011) là 2,15%/tháng, thời hạn thanh toán là ngày 25 hàng tháng. Ngân hàng đã phát hành và gửi cho bà T T N P thẻ số 486265-9242.
Sau khi được cấp thẻ tín dụng, bà T T N P đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 53.463.803 đồng (gốc: 42.581.686 đồng, lãi: 5.547.491 đồng, phí: 3.308.014 đồng) và đã thanh toán tiền gốc, lãi, phí tổng cộng là 51.437.191 đồng. Quá trình trả nợ bà T T N P đã nhiều lần thanh toán trễ hạn, từ ngày 31/7/2019 thì ngưng thanh toán cho đến nay nên Ngân hàng đã chuyển thành nợ quá hạn. Do bà T T N P vi phạm nghĩa vụ thanh toán, nên Ngân hàng đã nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng bà T T N P không có thiện chí trả nợ. Ngày 31/10/2019 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ của bà T T N P, chuyển toàn bộ nợ dư còn thiếu là 10.882.117 đồng sang nợ quá hạn.
- Ngân hàng T do ông T có đơn đề ngày 05/7/2021 xin xét xử vắng mặt, xác định Ngân hàng yêu cầu cá nhân bà T T N P thanh toán tiền còn nợ gốc là 10.882.117 đồng, tiền lãi tính đến ngày 13/7/2021 là 8.785.287 đồng và tiền lãi theo lãi suất 3,225%/tháng phát sinh kể từ ngày 14/7/2021 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ, trả một lần toàn bộ ngay khi bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
- Bà T T N P không có ý kiến, không đến Tòa án nhân dân Quận 6 để làm bản tự khai, không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, cũng như vắng mặt tại phiên tòa và không có văn bản nêu ý kiến.
- Bà Nguyễn Thị Mai Hương – Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân Quận 6 phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, cùng ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 6 tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
. Về quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết, thủ tục tố tụng:
Ngày 28/7/2020 Ngân hàng T đã nộp đơn khởi kiện đề ngày 28/7/2020 (có hình thức, nội dung đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự) trong đó ghi người bị kiện là bà T T N P có địa chỉ là đường P, Phường MH, Quận S, Thành phố Hồ Chí Minh. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân Quận 6 không tống đạt được thông báo về việc thụ lý vụ án, do bà P không còn cư trú tại địa chỉ mà Ngân hàng cung cấp (theo kết quả xác minh ngày 05/3/2021 của Công an Phường MH, Quận S ). Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bà P trả số tiền vay còn nợ theo giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng đề ngày 08/3/2016 và bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng, có ghi địa chỉ của bà P là đường P, Phường MH, Quận S, Thành phố Hồ Chí Minh. Như vậy, Ngân hàng đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú của bà P, nhưng bà P thay đổi nơi cư trú mà không thông báo cho Ngân hàng biết về nơi cư trú mới theo quy định tại khoản 3 Điều 40 Bộ luật Dân sự, là đã cố tình giấu địa chỉ. Vì vậy, căn cứ điểm a khoản 2 Điều 6 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017, Tòa án nhân dân Quận 6 tiếp tục giải quyết vụ án theo thủ tục chung.
Ngân hàng T yêu cầu trả số tiền vay còn nợ đối với bà T T N P, có nơi cư trú cuối cùng tại S3 cư xá Phú Lâm A, Phường 12, Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh, do đó đây là tranh chấp về hợp đồng dân sự vay tài sản thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 6 theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 40 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tòa án nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh đã tiến hành thủ tục niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng cho bà T T N P theo đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Xét bà P là bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không đến dự phiên tòa và Ngân hàng T do ông T có đơn xin xét xử vắng mặt, nên Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bà T T N P, ông T đại diện Ngân hàng T.
. Về yêu cầu của nguyên đơn:
Tòa án nhân dân Quận 6 đã niêm yết hợp lệ cho bà T T N P thông báo thụ lý số 698/TB-TLVA ngày 12/10/2020 về việc thụ lý vụ án “Tranh chấp về hợp đồng dân sự vay tài sản” theo đơn khởi kiện của Ngân hàng T yêu cầu bà P trả tiền vay còn nợ. Phía bà P không có văn bản ghi ý kiến, cũng như không đến Tòa án nhân dân Quận 6 theo giấy triệu tập để trình bày ý kiến, chứng tỏ bà P đã “không phản đối những tình tiết, sự kiện, tài liệu …” mà bên Ngân hàng đưa ra. Chính vì vậy, căn cứ khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân Quận 6 công nhận những tình tiết, sự kiện và tài liệu do Ngân hàng đưa ra có giá trị chứng minh.
Theo giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng đề ngày 25/02/2016 được duyệt hạn mức tín dụng ngày 08/3/2016 và bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng có hiệu lực từ ngày 15/01/20210, cùng lời khai của đại diện Ngân hàng cho thấy giao dịch giữa Ngân hàng và bà P là “Hợp đồng vay tài sản” có đủ điều kiện theo quy định tại Điều 122, Điều 471 Bộ luật Dân sự năm 2005 nên có hiệu lực thực hiện theo thỏa thuận: bà T T N P được Ngân hàng ý cấp thẻ tín dụng số 486265-9242 với hạn mức sử dụng là 15.000.000 đồng, tiền lãi phải trả theo lãi suất do Ngân hàng quyết định là 2,15%/tháng (theo thông báo về lãi suất số 113/TB-TTT ngày 04/7/2011), thời hạn thanh toán là ngày 25 hàng tháng.
Đại diện Ngân hàng trình bày: Sau khi được cấp thẻ tín dụng, bà P đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 53.463.803 đồng và đã thanh toán tiền gốc, lãi, phí tổng cộng là 51.437.191 đồng (gốc: 42.581.686 đồng, lãi: 5.547.491 đồng, phí: 3.308.014 đồng). Quá trình trả nợ bà T T N P đã nhiều lần thanh toán trễ hạn, từ ngày 31/7/2019 thì ngưng thanh toán cho đến nay nên Ngân hàng đã chuyển thành nợ quá hạn. Do bà T T N P vi phạm nghĩa vụ thanh toán, nên Ngân hàng đã nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng bà T T N P không có thiện chí trả nợ. Ngày 31/10/2019 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ của bà T T N P, chuyển toàn bộ nợ dư còn thiếu là 10.882.117 đồng sang nợ quá hạn. Tính đến ngày 13/7/2021, bà T T N P còn nợ Ngân hàng các khoản sau: Nợ gốc là 10.882.117 đồng, lãi: 8.765.287 đồng. Tổng cộng là 19.667.404đồng.
Như vậy, bà T T N P đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ theo thỏa thuận của hợp đồng. Do đó, căn cứ khoản 1 và khoản 5 Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 3, khoản 2 Điều 91 của Luật các tổ chức tín dụng; Thông tư số 12/2010/TT-NHNN ngày 14/4/2010; khoản 4 Điều 13 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016, bà P có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng tiền nợ vay gồm: nợ gốc là 10.882.117 đồng, lãi: 8.765.287 đồng. Tổng cộng là 19.667.404đồng.
Về thời hạn thanh toán: Số tiền bà T T N P còn thiếu nêu trên đến nay đã quá hạn thanh toán theo thỏa thuận, nên căn cứ Điều 278 Bộ luật Dân sự, bà P phải trả cho Ngân hàng toàn bộ số tiền 19.667.404 (mười chín triệu sáu trăm sáu mươi bảy ngàn bốn trăm lẽ bốn) đồng ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật.
Căn cứ Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019, bà T T N P còn phải trả cho Ngân hàng T tiền lãi theo lãi suất quá hạn thỏa thuận trong giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng đề ngày 25/02/2016 được duyệt hạn mức tín dụng ngày 08/3/2016, bản điều khoản điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng là 2,15%/tháng x 150% = 3,225%/tháng, trên dư nợ gốc chưa trả, tính từ ngày 14/7/2021 đến khi trả hết nợ.
Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn là phù hợp với đạo đức của xã hội và quy định của pháp luật.
.Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 1 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016: Do bà T T N P phải trả cho Ngân hàng số tiền nợ vay nêu trên, nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là: 19.667.404 đồng x 5%= 983.370 đồng.
Do Ngân hàng được chấp nhận toàn bộ yêu cầu nên không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, do đó được hoàn trả lại toàn bộ số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 340.312 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí số AA/2019/0010634 ngày 07/10/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 6.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 92, khoản 1 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 266 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 278, Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019; Luật các tổ chức tín dụng; Thông tư số 12/2010/TT-NHNN ngày 14/4/2010; Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016; Luật Thi hành án dân sự.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của Ngân hàng T:
Buộc bà T T N P phải có trách nhiệm trả cho Ngân hàng T số tiền vay còn nợ 19.667.404 (mười chín triệu sáu trăm sáu mươi bảy ngàn bốn trăm lẽ bốn) đồng (trong đó: nợ gốc là 10.882.117 đồng và nợ lãi tính đến ngày 13/7/2021 là 8.765.287 đồng) theo giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng đề ngày 25/02/2016 được duyệt hạn mức tín dụng ngày 08/3/2016.
Bà T T N P phải trả cho Ngân hàng T toàn bộ số tiền 19.667.404 (mười chín triệu sáu trăm sáu mươi bảy ngàn bốn trăm lẽ bốn) đồng nêu trên làm một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
2. Bà T T N P còn phải trả cho Ngân hàng T tiền lãi theo lãi suất là 3,225%/tháng, trên dư nợ gốc chưa trả, tính từ ngày 14/7/2021 đến khi trả hết nợ vay.
3. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Bà T T N P phải nộp án phí dân sự sơ thẩm là 983.370 (chín trăm tám mươi ba ngàn ba trăm bảy mươi) đồng.
Hoàn trả lại cho Ngân hàng T số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 340.312 (ba trăm bốn mươi ngàn ba trăm mười hai) đồng, theo biên lai thu tạm ứng án phí số AA/2019/0010634 ngày 07/10/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 6.
4. Về quyền kháng cáo: Ngân hàng T và bà T T N P có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân TP.HCM; - Viện kiểm sát nhân dân TP.HCM; - Viện kiểm sát nhân dân Quận 6; - Chi cục thi hành án dân sự Quận 6; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Thị Kim Sa |