- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Lý Nam D phạm tội chống người thi hành công vụ - phạm tội chống người thi hành công vụ (điều 330 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều củ…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lý Nam D phạm tội “Chống người thi hành công vụ”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬ N THỐ T NỐ T THÀNH PHỐ CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 90/2020/HSST Ngày: 04- 9- 2020 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬ N THỐ T NỐ T - THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Kiệt
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Đông
2. Bà Thái Ánh Trinh
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hằng –Thư ký Toà án Nhân dân
quậ n Thố t Nố t - thành phố Cần Thơ.
Đại diện viện kiểm sát nhân dân quậ n Thố t Nố t - thành phố Cần Thơ tham
gia phiên toà: Bà Phạm Ngọc Chi - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 9 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân quậ n Thố t Nố t -
thành phố Cần Thơ, tiế n hà nh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 77/2020/HSST ngày 29 tháng 7 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 93/2020/QĐXXST-HS ngày 18/8/2020, đối với bị cáo:
Họ và tên: LÝ NAM D - sinh năm: 1994. Cư trú: Khu vực T4, phường T, quận N, thành phố C. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh. Trình độ học vấn: 6/12; Nghề nghiệp: Làm mướn. Cha: Lý Văn B - sinh năm 1953 (sống); Mẹ: Bùi Thị M - sinh năm 1954 (sống). Vợ: Trần Thị Ngọc P – sinh nặm 1996; Con: Có 02 người con (lớn sinh năm 2016, nhỏ sinh năm 2018). Tiền án, tiền sự: Chưa.
Bị tạm giữ từ ngày 08/5/2020 đến ngày 14/5/2020 thay đổi biện pháp ngăn chặn bằng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú. (Bị cáo có mặt tại phiên toà)
Ngườ i có quyề n lợ i và nghĩ a vụ liên quan:
1. Ông Lý Văn B – Sinh năm 1953. Có mặt
2. Bà Bùi Thị M – Sinh năm 1955. Có mặt
Cùng cư trú : Khu vực T4, phường T, quận N, thành phố C.
3. Anh Dƣơng Văn N – Sinh năm 1986. Vắng mặt
Nơi cư trú : Khu vực L2, phường K, quận N, thành phố C.
Người làm chứng:
1. Anh Nguyễn Văn B – Sinh năm 2000. Vắng mặt
Nơi cư trú : Khu vực T2, phường T, quận N, thành phố C.
2. Anh Lê Vũ K – Sinh năm 2000. Vắng mặt
Nơi cư trú : Khu vực T2, phường Th, quận N, thành phố C.
3. Anh Nguyễn Thiện C – Sinh năm 1987. Vắng mặt
Nơi cư trú : Khu vực T2, phường T, quận N, thành phố C.
4. Anh Nguyễn Văn T – Sinh năm 1979. Vắng mặt
5. Anh Lý Quốc P – Sinh năm 1979. Vắng mặt
6. Ông Lý Phụng H – Sinh năm 1971. Vắng mặt
Nơi cư trú : Khu vực T4, phường T, quận N, thành phố C.
NỘ I DUNG VỤ Á N:
Qua cá c tà i liệ u có trong hồ sơ vụ á n và quá trì nh xé t hỏ i , tranh luậ n tạ i phiên tòa, nộ i dung vụ á n đượ c tó m tắ t như sau:
Vào khoảng 22 giờ ngày 07/5/2020, sau khi sử dụng rượu bia và ma tuý đá cùng với một số người bạn, Lý Nam D đi về nhà ở khu vực T 4 – phường T – quận N – thành phố C, thì xảy ra cư cải với cha ruột là ông Lý Văn B. Trong lúc cự cãi D dùng cây tuốt nơ vích đâm trúng vào tay và ngực ông B, ông B bỏ chạy. D tiếp tục đập phá đồ đạc trong nhà là 20 cái tô sứ và 10 cái chén sứ đã qua sử dụng. Thấy vậy, anh Lý Văn T ở nhà kế bên đã điện thoại trình báo Công an phường T. Nhận được tin báo, Trưởng công an phường là ông Ngô Vũ P đã phân công các anh Dương Văn N, Nguyễn Thiện C là cán bộ Công an phường T kết hợp cùng các anh Lê Vũ K và Nguyễn Văn B đến hiện trường để giải quyết vụ việc. Khi đến nơi, anh N giới thiệu là cán bộ công an phường đến mời D về trụ sở Công an phường để làm rõ sự việc, nhưng D không chấp hành mà còn có lời lẽ xúc phạm và cầm ghế nhựa đánh trúng vào tay của anh N. Sau đó, lực lượng công an làm nhiệm vụ đã khống chế đưa D về trụ sở Công an phường T làm việc. Tang vật thu giữ gồm: 01 cái ghế nhựa, 01 cây tuốt nơ vích.
Cơ quan điều tra trưng cầu giám định thương tích, nhưng ông Lý Văn B và anh Dương Văn N có đơn từ chối giám định thương tích và không yêu cầu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với D về hành vi cố ý gây thương tích.
Tại Bản kết luận định giá tài sản Số 37/BKL-HDĐGTS ngày 11/6/2020 của Hội đồng định giá tài sản Ủy ban nhân dân quận Thốt Nốt kết luận: Tổng giá trị tài sản không định giá được (là 20 cái tô sứ và 10 cái chén sứ đã qua sử dụng, do tài sản đã bễ nát thành nhiều mãnh nhỏ, không rõ xuất xứ hàng hoá, không thu hồi được tài sản). Vì vậy, không có cơ sở để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với hành vi đập phá tài sản.
Ngày 10/7/2020, Công an quận Thốt Nốt đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Lý Nam D về hành vi xâm hại đến sức khoẻ của người khác và cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác, với mức phạt tiền 6.000.000 đồng.
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý, Ủy ban nhân dân phường T đã ra Quyết định áp dụng biện pháp quản lý, giáo dục tại phường trong thời hạn 03 tháng.
Tại Cáo trạng Số 83/CT-VKSTN ngày 29/7/2020 của Viện kiểm sát nhân dân quận Thốt Nốt – thành phố Cần Thơ, truy tố Lý Nam D về tội “Chống người thi hành công vụ” theo quy định tại khoản 1 Điều 330 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng truy tố. Kiểm sát viên thực hành quyền công tố giữ nguyên quan điểm truy tố, đồng thời đề nghị:
- Về trách nhiệm hình sự:
Áp dụng: điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 330 của Bộ luật Hình sự năm 2015; sửa đổi bổ sung năm 2017;
+ Xử phạt bị cáo Lý Nam D từ 09 tháng đến 01 năm tù.
- Về trách nhiệm dân sự, xử lý vậ t chứ ng:
+Công nhận anh Dương Văn N không có yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại về sức khoẻ bị xâm phạm.
+Tịch thu tiêu huỷ 01 cái ghế nhựa màu xanh loại có tay vịn, có lưng tựa, đã qua sử dụng; 01 cây tuốt nơ vích bằng kim loại có cán bằng nhựa.
Bị cáo nói lời sau cùng: xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬ N ĐỊ NH CỦ A HỘ I ĐỒ NG XÉ T XƢ̉ :
Trên cơ sở nộ i dung vụ á n , căn cứ và o cá c tà i liệ u trong hồ sơ vụ á n đã đượ c thẩ m tra, xét hỏi, tranh luậ n tạ i phiên tò a, Hộ i đồ ng xé t xử nhậ n thấ y như sau:
[1] Về hà nh vi , quyế t đị nh tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Thốt Nố t, Điề u tra viên , Việ n kiể m sá t nhân dân quậ n Thố t Nố t , Kiể m sá t viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thự c hiệ n đú ng về thẩ m quyề n , trình tự thủ tục quy định của Bộ luậ t Tố tụ ng hì nh sự . Quá trình điều tra và tại phiên tò a không có ngườ i nà o khiế u nại về hành vi, quyế t đị nh củ a Cơ quan tiế n hà nh tố tụ ng, ngườ i tiế n hà nh tố tụ ng. Do đó , các hành vi, quyế t đị nh tố tụ ng củ a Cơ quan tiế n hành tố tụng, ngườ i tiế n hà nh tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Trong điều tra và tại phiên tòa , bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với các chứng cứ khác được thu thập trong quá trình điều tra.
Như vậy, có cơ sở xác định vào khoảng 23 giờ ngày 08/5/2020, khi tổ công tác Công an phường T được phân công nhiệm vụ đến xử lý vụ việc Lý Nam D quậy phá đập đồ đạc trong nhà cha ruột là ông Lý Văn B trú tại khu vực T4 – P. T – Q. N – thanh phố C, bị cáo Lý Nam D đã có hành vi dùng vũ lực cầm ghế nhựa tấn công vào nhóm người của tổ công tác Công an phường T, trong đó anh Dương Văn N giơ tay lên đở thì bị đánh trúng vào cổ tay gây thương tích. Mục đích bị cáo tấn công là để đuổi tổ công tác ra khỏi nhà, nhằm cản trở những người đang thực hiện công vụ. Hành vi bị cáo thực hiện đã xâm phạm đến hoạt động của nhà nước về quản lý hành chính trong lĩnh vực thi hành nhiệm vụ công. Do đó, việc truy tố, xét xử bị cáo Lý Nam D về tội “Chống người thi hành công vụ” theo quy định tại khoản 1 Điều 330 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là đúng người, đúng tội.
[3] Xét thấy, bị cáo là người đủ khả năng nhận thức để điều chĩnh hành vi xử sự của mình, nhưng trong lúc say rượu và đã có sử dụng ma tuý đá trước đó làm cho bị cáo không kìm chế được bản thân , đã thực hiện hành động sai trái như trên , làm ảnh hưởng đến tình hình trật tự địa phương , ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của cơ quan nhà nước , xâm hại sức khỏe của người khác. Hành vi đó là nguy hiểm cho xã hội. Do đó, cần phải có mức hình phạt nghiêm minh tương xứng để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; đã thành khẩn trong khai báo; con của bị cáo còn nhỏ tuổi. Vì vậy, Hội đồng xét xử có xem xét giảm nhẹ cho bị cáo phần nào hình phạt.
[4] Về trách nhiệm dân sự, xử lý vậ t chứ ng:
+Anh Dương Văn N không có yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại về sức khoẻ bị xâm phạm. Xét đây là sự tự nguyện của đương sự không trái pháp luật, nên công nhận.
+Đối với 01 cái ghế nhựa màu xanh loại có tay vịn, có lưng tựa, đã qua sử dụng và 01 cây tuốt nơ vích bằng kim loại có cán bằng nhựa, chủ sở hữu không yêu cầu nhận lại, vật không còn giá trị sử dụng bao nhiêu, nên tịch thu tiêu huỷ.
[5] Đối với hành vi đánh người của bị cáo, Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định thương tích, nhưng ông Lý Văn B và anh Dương Văn N có đơn từ chối giám định thương tích và không yêu cầu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với D về hành vi cố ý gây thương tích.
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý của Lý Nam D, Ủy ban nhân dân phường T đã ra Quyết định áp dụng biện pháp quản lý, giáo dục tại phường trong thời hạn 03 tháng.
[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên, Hội đồng xét xử;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Lý Nam D phạm tội “Chống người thi hành công vụ”.
1. Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng: điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 330 của Bộ luật Hình sự năm 2015; sửa đổi bổ sung năm 2017;
Xử phạt bị cáo Lý Nam D 09 (chín) tháng tù.
Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt, được trừ thời gian bị
cáo bị tạm giữ từ ngày 08/5/2020 đến ngày 14/5/2020.
2. Về trách nhiệm dân sự , xử lý vậ t chứ ng : Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
+Công nhận anh Dương Văn N không có yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại về sức khoẻ bị xâm phạm.
+Tịch thu tiêu huỷ 01 cái ghế nhựa màu xanh loại có tay vịn, có lưng tựa, đã qua sử dụng; 01 cây tuốt nơ vích bằng kim loại có cán bằng nhựa.
3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 31 tháng 12 năm 2016;
Bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND TP.Cần Thơ; - VKSND Q.Thốt Nốt; - Công an Q.Thốt Nốt; - Chi cục THADS Q.Thốt Nốt; - Bị cáo…; - Lưu HS . | Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà Nguyễn Văn Kiệt |