- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn, nuôi con"
- Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 90/2020/HNGĐ-ST Ngày: 05-8-2020 V/v tranh chấp “Ly hôn, nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN,TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Thị Diệu Tiên.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lê Quốc Dũng.
2. Ông Phạm Thành Ngôn.
Thư ký phiên tòa: Ông Trần Ngọc Ký – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố
Long Xuyên, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên tham gia phiên tòa:
Không tham gia phiên tòa.
Trong ngày 05 tháng 8 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long
Xuyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 233/2020/TLST-HNGĐ ngày 06
tháng 05 năm 2020 về tranh chấp “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định
đưa vụ án ra xét xử số 173/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 06 năm 2020 giữa
các đương sự:
Nguyên đơn: bà Huỳnh Thị Ngọc H, sinh năm: 1988. (có mặt).
Địa chỉ: số 727/3, tổ 7, khóm K, phường M, thành phố X, tỉnh An Giang.
Chỗ ở hiện nay: số 1031/53, khóm K, phường K, thành phố X, tỉnh An Giang.
Bị đơn: ông Nguyễn Huỳnh P, sinh năm: 1980. (vắng mặt).
Địa chỉ: số 727/3, tổ 7, khóm K, phường M, thành phố X, tỉnh An Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện, tờ tự khai và tại phiên tòa nguyên bà Huỳnh Thị Ngọc H
trình bày: bà và ông P sống chung vào năm 2007, hôn nhân do tự tìm hiểu và tiến tới
hôn nhân, vợ chồng có đăng ký kết hôn vào năm 2008, vợ chồng sống hạnh phúc đến
năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn về tiền bạc và do ông P thường xuyên đi nhậu, cờ
bạc, đánh số đề về nhà chửi và đánh bà nhiều lần, vợ chồng thường xuyên cự cãi, vợ
chồng không còn sống chung từ tháng 5 năm 2019 (âm lịch) cho đến nay. Nhận thấy
tình cảm không còn nên bà yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Huỳnh P.
- Về con chung: bà H và ông P có 02 con chung tên Ông PNguyễn Huỳnh Như
Y, sinh ngày 07/06/2007 và Nguyễn Huỳnh T, sinh ngày 08/05/2009, hiện 02 con chung đang sống chung với bà H. Sau khi ly hôn, bà H yêu cầu được tiếp tục nuôi 02 con chung, không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi con. Hiện nay bà H làm công nhân đông lạnh tại Công ty A tại Trà Ôn, thu nhập mỗi tháng 10.000.000 đồng đủ khả năng nuôi 02 con chung.
- Về tài sản chung, nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Bị đơn ông Nguyễn Huỳnh P vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án
nên không thể ghi nhận ý kiến của ông P đối với yêu cầu khởi kiện của bà H.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên
tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về thủ tục tố tụng:
Bà Huỳnh Thị Ngọc H yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Huỳnh P. Ông P có
nơi cư trú tại phường M, thành phố X, tỉnh An Giang. Do đó, Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền được quy định tại các Điều 28, 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Bị đơn ông Nguyễn Huỳnh P đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến tham gia
phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông P theo quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: bà Huỳnh Thị Ngọc H và ông Nguyễn Huỳnh P xác
lập quan hệ vợ chồng và chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nên hôn nhân của ông, bà được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Khi vợ chồng chung sống thì phát sinh mâu thuẫn do tính tình không phù hợp, bất đồng về quan điểm, trong quá trình giải quyết vụ án bà H xác định không còn tình cảm với ông P, giữa vợ chồng mâu thuẫn trầm trọng không thể hàn gắn nên bà vẫn cương quyết yêu cầu ly hôn, ông P cũng không có ý kiến đối với yêu cầu ly hôn của bà H.
Hội đồng xét xử nhận thấy, hôn nhân phải trên cơ sở tự nguyện, bà H xác định
không thể tiếp tục chung sống cùng với ông P, hôn nhân không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được và vợ chồng không còn chung sống với nhau từ năm 2019 đến nay, mâu thuẫn kéo dài, giữa vợ chồng không còn thực hiện các quyền và nghĩa vụ cũng như không cố gắng hàn gắn, duy trì cuộc sống hôn nhân. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà H là phù hợp với quy định tại Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về con chung: có 02 con chung tên Ông P Nguyễn Huỳnh Như Y, sinh
ngày 07/06/2007 và Nguyễn Huỳnh T, sinh ngày 08/05/2009. Sau khi ly hôn, bà H yêu cầu được nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi con.
Hội đồng xét xử xét thấy từ khi bà H và ông P không còn chung sống với nhau
thì các cháu sống chung với bà H cho đến nay, vẫn phát triển tốt về thể chất và tinh
thần. Mặt khác, trong quá trình giải quyết vụ án thì ông P cũng không có văn bản
trình bày ý kiến đối với yêu cầu nuôi dưỡng con chung của bà H, cháu Y, cháu T
sống với bà H đã ổn định về chỗ ở, điều kiện sinh hoạt, học tập. Mặt khác, tại biên
bản ghi lời khai ngày 26/5/2020, cháu Y, cháu T cũng có nguyện vọng được sống với
bà H. Do đó, để đảm bảo cuộc sống ổn định cho các cháu, Hội đồng xét xử quyết
định giao cháu Y, cháu T cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp với quy
định tại khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về cấp dưỡng nuôi con: không xem xét, giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: ghi nhận ý kiến của bà H trình bày không có
nên không đề cập giải quyết.
Về án phí: bà H phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia
đình 2014.
- Các Điều 28, 35, 39, 144, 147, 227, 228, 235, 271, 273, 278 và Điều 280 Bộ
luật tố tụng dân sự.
- Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí
và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Thị Ngọc H.
- Về quan hệ hôn nhân: bà Huỳnh Thị Ngọc H được ly hôn ông Nguyễn Huỳnh
P. Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 110, ngày 21/5/2008 do Ủy ban nhân dân
phường Mỹ Hòa, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang cấp không còn giá trị pháp
lý.
- Về con chung: bà Huỳnh Thị Ngọc H được trực tiếp nuôi dưỡng con chung
tên Ông P Nguyễn Huỳnh Như Y, sinh ngày 07/06/2007 và Nguyễn Huỳnh T, sinh
ngày 08/05/2009.
Ông Nguyễn Huỳnh P không trực tiếp nuôi con chung nhưng ông có quyền tới
lui thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung, không ai được ngăn cản ông P thực
hiện quyền này.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm
quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng
nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.
- Về cấp dưỡng nuôi con: không xem xét, giải quyết.
- Về tài sản chung: không xem xét, giải quyết.
- Về nợ chung: ghi nhận bà Huỳnh Thị Ngọc H xác định không có nợ chung,
nhưng sau khi bản án ly hôn có hiệu lực pháp luật nếu có nguyên đơn xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thì bà Huỳnh Thị Ngọc H và ông Nguyễn Huỳnh P vẫn phải liên đới chịu trách nhiệm với tư cách bị đơn trong vụ án dân sự khác.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: bà Huỳnh Thị Ngọc H phải chịu án phí dân sự sơ
thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0000944 ngày 06/5/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang. Bà H đã nộp xong.
Bà Huỳnh Thị Ngọc H được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ
ngày tuyên án.
Ông Nguyễn Huỳnh P được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ
ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án
dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - VKSND thành phố Long Xuyên; - TAND tỉnh An Giang; - Chi cục THADS thành phố Long Xuyên; - UBND phường Mỹ Hòa; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ - VP (5)./. | TM . HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Thị Diệu Tiên |