- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phí Thành N phạm tội “Trộm cắp tài sản”. - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về trách nhiệm hình sự, hình phạt:
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 52 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI TỈNH LÀO CAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 90/2019/HSST Ngày 04-11-2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI, TỈNH LÀO CAI
Với thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Vân.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Văn Ngân và Bà Vũ Thị Hòa
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hiền Lương – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai tham gia phiên toà: Ông Trịnh Ngọc Thạch - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 11 năm 2019 tại phòng xét xử Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai,tỉnh Lào Cai. Xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 92/2019/HSST ngày 15/10/2019 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 100/QĐXXST- HS ngày 23 tháng 10 năm 2019 đối với bị cáo:
Phí Thành N; Giới tính: Nam; tên gọi khác: Không; sinh ngày 04 tháng 4 năm 1987 tại thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai; nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12;
Hộ khẩu thường trú: Tổ 01, phường X, thành phố L, tỉnh L.
Tiền án: Có 01 tiền án, theo Bản án hình sự sơ thẩm số: 64/2016 ngày 29/6/2016 của Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai đã xử phạt đối với Phí Thành N 02 (hai) năm 09 tháng tù về tội “mua bán trái phép chất ma túy” chưa được xóa án tích; Tiền sự: không.
Con ông: Phí Quang H (đã chết) Con bà: Ninh Thị H ; Vợ là: Hồ Thị L sinh năm 1988.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 03/9/2019. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Người bị hại:
1- Chị Ma Thị S - Sinh năm 1994, trú tại: thôn Bản Vàng, xã Bản Cái, huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai.
2- Anh Trần Trung K - Sinh năm 1984, trú tại: tổ 12, phường Nam Cường, thành phố Lào Cai .
3- Anh Đỗ Hoàng V - Sinh năm 1995, trú tại: xã Sơn Hà, huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai.
4- Anh Hà Hùng H - Sinh năm 1994, trú tại: Thôn Đồng Bá, xã Hòa Phú, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang.
5- Chị Nguyễn Thị Ph - Sinh năm 1972, trú tại: tổ 32, phường Pom Hán, thành phố Lào Cai.
(Tất cả các bị hại vắng mặt tại phiên tòa).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1- Chị Vũ Thị H - Sinh năm 1969; trú tại: tổ 2, phường Kim Tân, thành phố Lào Cai
2- Anh Vũ Đại D - Sinh năm 1973; trú tại: tổ 14, phường Nam Cường, thành phố Lào Cai
3- Anh Nguyễn Anh T - Sinh năm 1988; trú tại: tổ 34, phường Pom Hán, thành phố Lào Cai.
(Tất cả vắng mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trong khoảng thời gian từ ngày 04/6/2019 đến ngày 13/7/2019, bị cáo Phí Thành N đã thực hiện 05 vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn thành phố Lào Cai, cụ thể như sau:
Vụ thứ nhất: Khoảng 08 giờ ngày 04/6/2019, Phí Thành N điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Wave RS, biển kiểm soát 24B1-3042 đi từ nhà đến dãy phòng trọ số 109 đường BM15 thuộc tổ 13, phường Bình Minh, thành phố Lào Cai với mục đích đi tìm tài sản để trộm cắp. Đến phòng trọ của chị Ma Thị Sáo dùng kìm cách điện mang theo bẻ tai khóa cửa phòng chị Sáo, mở cửa đi vào trong phòng trộm cắp 01 (một) chiếc máy tính xách tay nhãn hiệu Asus A441UV i36100U/4GB/500GB/2GB, màu đen mang đến khu vực cầu Kim Tân, thành phố Lào Cai bán cho một người đàn ông không quen biết với giá 700.000 đồng và tiêu xài cá nhân hết. Chiếc máy tính trên đến nay không thu giữ được.
Vụ thứ hai: Khoảng 09 giờ ngày 03/7/2019, Phí Thành N điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Wave RS, biển kiểm soát 24B1-3042 đi từ nhà đến dãy phòng trọ tại số nhà 025, đường BM15 thuộc tổ 13, phường Bình Minh, thành phố Lào Cai để tìm tài sản trộm cắp. Đến nơi Nam lên tầng 2 của dãy phòng trọ thì nhìn thấy phòng trọ số 3 là phòng của anh Trần Trung Kiên dùng chiếc kìm cách điện đem theo bẻ tai khóa cửa phòng đi vào bên trong trộm cắp 01 bộ máy vi tính nhãn hiệu Cooler master, màn hình Dell Pro P2314H (J05K4), bàn phím nhãn hiệu Dell và 01 chuột nhãn hiệu Logitech M215 và 01 hộp đựng đồ sửa chữa nhãn hiệu V-B0SCH kích thước (44x27x09) cm, bên trong có 01 máy khoan, kìm, cưa, tua vít và một số dụng cụ khác. Nam mang toàn bộ số tài sản trên ra xe mô tô đi bán cho anh Nguyễn Anh Tuấn (sinh năm 1988, trú tại tổ 34, phường Pom Hán, thành phố Lào Cai 01 bộ máy vi tính với giá 2.600.000 đồng, bán hộp đồ sửa chữa cho anh Vũ Đại Dương (sinh năm 1983, trú tại tổ 14, phường Nam Cường, thành phố Lào Cai với giá 100.000 đồng, số tiền này bị cáođã sử dụng vào mục đích tiêu xài cá nhân hết.
Vụ thứ ba: Khoảng 09 giờ ngày 07/7/2019, Nam điều khiển xe mô tô trên từ nhà đến khu vực đường Ỷ Lan, tổ 4, phường Nam Cường, thành phố Lào Cai để tìm tài sản trộm cắp bán lấy tiền tiêu xài, khi đi qua dãy nhà trọ số 153 đi bộ vào phòng trọ của anh Đỗ Hoàng Việt (sinh năm 1995, trú tại xã Sơn Hà, huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai), dùng kìm bẻ tai khóa cửa phòng, vào trong trộm cắp 01 máy tính xách tay nhãn hiệu HPX360 màu vàng đem bán cho một người nam giới không biết tên, tuổi, địa chỉ ở khu vực cầu Kim Tân, thành phố Lào Cai với giá 1.000.000 đồng, số tiền này bị cáođã sử dụng vào mục đích tiêu xài cá nhân hết.
Vụ thứ tư: Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 07/7/2019 Nam điều khiển xe mô tô đến khu vực đường Lê Thanh thuộc tổ 4, phường Nam Cường, thành phố Lào Cai đi bộ đến phòng trọ của anh Hà Hùng Hậu dùng kìm bẻ tai khóa lấy được 01 chiếc máy tính xách tay nhãn hiệu HP 8570P màu trắng bạc đi bán cho một người nam giới không quen biết ở khu vực cầu Kim Tân với giá 700.000 đồng, số tiền này bị cáo đã sử dụng vào mục đích tiêu xài cá nhân hết. Chiếc máy tính đến nay không thu hồi được.
Vụ thứ năm: Khoảng 18 giờ ngày 13/7/2019, Nam điều khiển xe mô tô từ thành phố Lào Cai về nhà, khi đến số nhà 003, đường BM14, tổ 13, phường Bình Minh, thành phố Lào Cai đến nhà chị Nguyễn Thị Phúc vào trong nhà nhìn thấy chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Huawei Y7 Pro màu đen, để trên mặt ghế phòng khách. Nam cầm chiếc điện thoại này mang ra ngoài thì bị chị Phúc từ dưới bếp đi lên phát hiện nên đã đuổi theo vừa hô hoán mọi người nhưng không giữ được. Nam điều khiển xe mô tô chạy thoát và mang chiếc điện thoại trên bán cho chị Vũ Thị Hằng (sinh năm 1969, trú tại tổ 2, phường Kim Tân, thành phố Lào Cai với giá 600.000 đồng, số tiền này bị cáo đã sử dụng vào mục đích tiêu xài cá nhân hết .
Ngày 12/9/2019 của Hội đồng định giá tài sản thành phố Lào Cai kết luận:
01 (một) chiếc máy tính xách tay nhãn hiệu Asus A441UV i36100U/4GB/500GB/2GB, màu đen có giá trị là 5.371.200 đồng
01 chiếc máy tính xách tay nhãn hiệu HP 8570P màu trắng bạc có giá trị là 4.000.000 đồng
01 máy tính xách tay nhãn hiệu HPX360 màu vàng có giá trị là 11.871.200 đồng
Ngày 29/7/2019 của Hội đồng định giá tài sản thành phố Lào Cai kết luận:
- 01 cây máy tính nhãn hiệu Cooler master màu đen, 01 màn hình nhãn hiệu Dell Pro P2314H (J05K4) màu đen-xám, 01 chuột nhãn hiệu Logitech M215 màu đen, 01 bàn phím nhãn hiệu Dell màu đen có tổng giá trị là 4.465.000 đồng; 01 hộp đựng đồ sửa chữa nhãn hiệu V-B0SCH bên trong có 01 máy khoan nhãn hiệu V-B0SCH màu đỏ, kìm, cưa, tua vít và một số dụng cụ sửa chữa khác có giá trị là 220.000 đồng. Tổng giá trị tài sản bị xâm hại là 4.685.000 đồng
- 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Huawei Y7 Pro màu đen, số Imei 1: 869572031625377, số Imei 2: 869572031625385 có giá trị là 2.024.200 đồng
Tổng giá trị tài sản trộm cắp là 27.951.600đ (Hai mươi bẩy triệu chín trăm năm mươi mốt nghìn sáu trăm đồng).
Tại bản cáo trạng số 93/KSĐT ngày 14/10/2019 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai đã truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại Điều 173 khoản 1 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai đã đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Phí Thành N phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng khoản 1 điều 173; điểm h,s khoản 1 khoản 2 Điều 51 và điểm g,h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Phí Thành N từ 01( một) 06 tháng đến 01 (một) năm 09 tháng tù;
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
2. Về dân sự: Áp dụng điều 584; khoản 1 điều 589 bộ luật dân sự. Buộc bị cáo phải bồi thường cho:
Anh Đỗ Hoàng Việt là 11.871.200 đồng.
Anh Hà Hùng Hậu là 4.000.000 đồng.
Chị Ma Thị Sáo 5.371.200 đồng.
Chị Vũ Thị Hằng số tiền 600.000 đồng chị đã bỏ ra để mua 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Huawei Pro màu đen của bị cáo;
Xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.
Tính án phí cho bị cáo theo quy định của pháp luật.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo Phí Thành N, tại phiên tòa đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng và các tài liệu khác đã có trong hồ sơ.
Từ ngày 04/6/2019 đến ngày 13/7/2019, bị cáo đã 5 lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Tổng giá trị tài sản trộm cắp là 27.951.600đ (Hai mươi bẩy triệu chín trăm năm mươi mốt nghìn sáu trăm đồng).
Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai truy tố bị cáo Phí Thành N theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là đúng pháp luật.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Do đó, Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội để cải tạo, giáo dục bị cáo, qua đó răn đe, phòng ngừa những hành vi tương tự.
Xét về nhân thân bị cáo: Bị cáo Phí Thành N là người có nhân thân xấu: Phí Thành N là người hiện đang có một tiền án chưa được xóa án tích (Bản án hình sự sơ thẩm số 64/2016/HSST ngày 29/6/2016 của Tòa án nhân dân thành phố Lào cai xử phạt bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”).
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Từ ngày 04/6/2019 đến ngày 03/7/2019, bị cáo đã 05 lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, thuộc trường hợp phạm tội từ 02 lần trở lên quy định tại điểm g, khoản 1 điều 52 Bộ luật hình sự và tại bản án số: 64/2016/HSST ngày 29/6/2016 của Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai xét xử bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và xử phạt bị cáo 02 năm 09 tháng tù chưa được xóa án tích nên lần phạm tội này bị cáo bị coi là tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 điều 52 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên toà hôm nay cũng như tại cơ quan điều tra bị cáo thành khẩn khai báo, một phần tài sản trộm cắp đã thu hồi trả lại cho người bị hại, cần áp dụng điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật Hình sự năm năm 2015 thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có tài sản riêng, vì vậy Hội đồng xét xử không phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng: Ngày 30/8/2019, Cơ quan điều tra đã quyết định xử lý vật chứng trao trả cho anh Trần Trung Kiên 01 cây máy tính nhãn hiệu Cooler master màu đen, 01 màn hình nhãn hiệu Dell Pro P2314H (J05K4) màu đen-xám, 01 chuột nhãn hiệu Logitech M215 màu đen, 01 bàn phím nhãn hiệu Dell màu đen và 01 hộp đựng đồ sửa chữa nhãn hiệu V-B0SCH bên trong có 01 máy khoan nhãn hiệu V-B0SCH màu đỏ, kìm, cưa, tua vít và một số dụng cụ sửa chữa khác đã qua sử dụng; trả cho chị Nguyễn Thị Phúc 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Huawei Y7 Pro màu đen. Anh Kiên, chị Phúc nhận lại tài sản không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm và đề nghị xử lý bị cáo theo quy định của pháp luật xét thấy là phù hợp.
Về trách nhiệm dân sự: Chị Ma Thị Sáo yêu cầu bị cáo Phí Thành N
Anh Đỗ Hoàng Việt yêu phải bồi thường thiệt hại số tiền 5.371.200 đồng; cầu bồi thường là 11.871.200 đồng; Anh Hà Hùng Hậu yêu cầu bồi thườnglà 4.000.000 đồng;
Chị Vũ Thị Hằng yêu cầu bồi thường số tiền 600.000 đồng chị đã bỏ ra để mua 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Huawei Pro màu đen của bị cáo là phù hợp theo Điều 584; khoản 1 Điều 589 bộ luật dân sự nên chấp nhận.
Chị Hằng, anh Dương, anh Tuấn là người mua tài sản trộm cắp của bị cáo, nhưng hoàn toàn không biết đó là tài sản do phạm tội mà có nên Cơ quan điều tra Công an thành phố Lào Cai không đề cập xử lý đối với Vũ Thị Hằng, Vũ Đại Dương và Nguyễn Anh Tuấn là đúng quy định của pháp luật
Đối với anh Vũ Đại Dương và anh Nguyễn Anh Tuấn, mặc dù đã bỏ tiền ra mua tài sản của Phí Thành N (anh Dương bỏ số tiền 100.000 đồng, anh Tuấn bỏ số tiền 2.600.000 đồng), đến nay anh Dương, anh Tuấn cho bị cáo số tiền đó và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường nên hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Chị Vũ Thị Hằng yêu cầu Phí Thành N phải bồi thường cho chị số tiền 600.000 đồng chị đã bỏ ra để mua 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Huawei Pro màu đen cần được chấp nhận.
Đối với người đàn ông đã mua 01 (một) chiếc máy tính xách tay nhãn hiệu Asus A441UV i36100U/4GB/500GB/2GB, màu đen, 01 máy tính xách tay nhãn hiệu HPX360 màu vàng và 01 chiếc máy tính xách tay nhãn hiệu HP 8570P màu trắng bạc tại khu vực đầu cầu Kim Tân, phường Kim Tân, thành phố Lào Cai. Ngoài lời khai của bị cáo không có chứng cứ nào chứng minh, Cơ quan điều tra không đủ căn cứ để xác minh được lai lịch của người đàn ông này nên không xử lý được.
Đối với 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RS, BKS 24P1-3042, màu đỏ, đã qua sử dụng; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 màu đen và số tiền 270.000 đồng mà cơ quan điều tra đã tạm giữ của Phí Thành N. Quá trình điều tra đã chứng minh làm rõ số tài sản trên không phải là vật chứng của vụ án nên Cơ quan điều tra Công an thành phố Lào Cai trả lại cho chị Phí Thị Hiền (sinh năm 1983, trú tại tổ 10, phường Nam Cường, thành phố Lào Cai) là chị gái ruột của bị cáo 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RS, BKS 24P1-3042, màu đỏ; trả cho chị Hồ Thị Lai (sinh năm 1988, trú tại tổ 9, phường Nam Cường, thành phố Lào Cai) là vợ của Phí Thành N 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 màu đen và số tiền 270.000 đồng. Chị Hiền, chị Lai nhận lại tài sản và không yêu cầu gì thêm hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với vật chứng trong vụ án là 01 (một) kìm cách điện có phần tay cầm bọc nhựa màu vàng đen cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a,c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điều 136 khoản 2 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Về trách nhiệm hình sự, hình phạt:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g,h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự. Tuyên bố bị cáo Phí Thành N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Phí Thành N 18 (mười tám ) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 03/9/2019.
2. Về trách nhiệm dân sự:
Áp dụng điều 584; khoản 1 điều 589 bộ luật dân sự. Buộc bị cáo Phí
5.371.200 đồng (năm Thành N phải bồi thường cho Chị Ma Thị Sáo số tiền: triệu ba trăm bảy mươi mốt nghìn hai trăm đồng) Anh Đỗ Hoàng Việt là
; 11.871.200 đồng (mười một triệu tám trăm bảy mươi mốt nghìn hai trăm đồng); Anh Hà Hùng Hậu là 4.000.000 đồng (bốn triệu đồng);
Chị Vũ Thị Hằng số tiền 600.000 đồng ( sáu trăm nghìn đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi thi hành xong khoản tiền bồi thường, thì hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền chậm thi hành án tương ứng với thời gian chưa thi hành án theo quy định tại điều 357 của Bộ luật dân sự năm 2015.
Về vật chứng: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a,c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) kìm cách điện có phần tay cầm bọc nhựa màu vàng đen. Theo biên bản bàn giao vật chứng ngày 15/10/2019 giữa Công an thành phố Lào Cai và Chi cục thi hành án thành phố Lào Cai.
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Phí Thành N phải chịu 200.000đ (Hai trăm ngàn) tiền án phí Hình sự sơ thẩm và 1.065.120 đồng (một triệu không trăm sáu mươi lăm nghìn một trăm hai mươi đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm uyết, tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh; - VKSND TP 2; - Công an TP 3; - Sở tư pháp; - Bị cáo; BH5; - NLQ 3; - T.H.A 3; - Lưu | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Thanh Vân |