- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lương Duy T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật hình sự giảm nhẹ một phần hình phạt; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 90/2019/HSST Ngày: 29/5/2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Ma Văn Nhất.
Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Võ Văn Tốt
2/ Bà Nguyễn Thị Vân
Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Vũ Thế Chung – Cán bộ Tòa án nhân dân Quận 12,Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Nhẫm – Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 5 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 12 mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 241/2018/HSST ngày 03/12/2018, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 109/2019/HSST-QĐ ngày 10/5/2019, đối với bị cáo:
Lương Duy T , sinh năm: 1994, tại: Bến Tre. Nơi ĐKNKTT: Ấp An Nh 2, xã Đa P, huyện M Nam, tỉnh Bến Tre. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: kinh; Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 7/12; Nghề nghiệp: Làm vườn. Con ông: Lương Văn Ph; Con bà: Lê Thị Tr; hoàn cảnh gia đình: Vợ, con: Chưa có. Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo tại ngoại - (có mặt).
*Người bị hại: Công ty tài chính TNHH MTV H Việt Nam
Đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Phước T
Địa chỉ: Tầng G, 8 và 10 tòa nhà Phụ Nữ, số A, Nguyễn Đăng G, phường Thảo Đ, Quận 2, TP. Hồ Chí Minh (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do muốn có tiền tiêu xài, vào cuối năm 2015, Lương Duy T vào mạng Internet tìm mua 01 Chứng Minh Nhân dân và 01 giấy phép lái xe tên Tạ Tấn Phát của một thanh niên (không rõ lai lịch) với giá 300.000 đồng. Sau đó T gọi điện đến tổng đài 08-38999666 của công ty tài chính H có trụ sở tại tầng 1, 194 Golden Building, 473 Điện Biên Phủ, phường 25, quận Bình Thạnh, TP. Hồ Chí Minh đề nghị lập hồ sơ vay tiền mua trả góp điện thoại thông qua công ty bán điện thoại “thế giới di động” thì được công ty này đồng ý. Sau đó T đã thay ảnh của mình vào, đến ngày 08/12/2015 T mang Chứng minh nhân dân và giấy phép lái xe đến cửa hàng bán điện thoại “thế giới di động” thuộc Công ty “Thế giới di động” số 222 đường Trường Chinh, phường T Hưng Thuận, Quận 12 ký hợp đồng vay tiền với công ty H để mua trả góp 01 điện thoại di động hiệu OPPO R7S với giá 9.490.000 đồng. T phải trả trước 20% tương đương 2.000.000 đồng. Cộng cả phí bảo hiểm, số tiền mà T vay của H là 7.847.000 đồng. Thời hạn trả góp là 09 tháng, lãi suất 6,68%/tháng. Cùng ngày H đã chuyển trả số tiền trên hợp đồng vay cho Công ty thế giới di động và T đã nhận chiếc điện thoại di động hiệu OPPO R7S. Sau khi nhận được điện thoại, T đã đem bán chiếc điện thoại trên cho một phụ nữ (không rõ lai lịch) tại ngã tư Bà Điểm, Hóc Môn với giá 6.500.000 tiêu xài và không đóng tiền trả góp cho Home credit. Đối với Chứng minh nhân dân và và Giấy phép lái xe sau khi sử dụng để vay tiền của Homcredit T đã đem vứt bỏ, không thu hồi được. Ngày 24/02/2017 công ty H đã có đơn tố cáo T chiếm đoạt 11.459.000 đồng. Việc chênh lệch 3.612.000 đồng đây là tiền mà H tính tiền lãi và tiền phạt do T chậm nộp. T đã nộp 7.847.000 đồng. Tại Cơ quan cảnh sát điều tra Lương Duy T khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Vật chứng vụ án: 7.847.000 đồng, tiền Ngân hàng Nhà Nước Việt Nam.
Bản cáo trạng 236/CTr-VKS, ngày 08/11/2017 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, đã truy tố bị cáo Lương Duy T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 139 Bộ luật hình sự năm 1999.
Tại phiên tòa: Bị cáo Lương Duy T khai nhận hành vi mua Chứng minh nhân dân và Giấy phép lái xe mang tên Tạ Tấn Phát trên mạng Intenet của một người thanh niên lạ mặt, thay ảnh của mình vào rồi lập hồ sơ vay tiền mua điện thoại trả góp trị giá 9.490.000 đồng, bị cáo đã trả trước 2.000.000 đồng, nhưng sau đó không đóng tiền trả góp còn lại. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai người bị hại, người liên quan, người làm chứng cùng các chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án.
Đại diện theo ủy quyền của người bị hại ông Lê Phước Toàn có trình bày: ông đề nghị hoàn trả số tiền bị chiếm đoạt và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, cho bị cáo được hưởng án treo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm luận tội vẫn giữ nguyên nội dung truy tố đối với bị cáo; sau khi phân tích tính chất và mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đã đề nghị Hội đồng xét xử, tuyên phạt: bị cáo Lương Duy T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 139 Bộ luật hình sự năm 1999 và đề nghị xử phạt 09 tháng đến 12 tháng tù, về vật chứng và trách nhiệm dân sự đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.
Bị cáo Lương Duy T không tranh luận, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng sự khoan hồng của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Do trước đó Lương Duy T đã dùng Chứng minh nhân dân của bản thân mua hàng trả góp nhưng không thanh toán hết tiền trả góp nên không thể tiếp tục vay tiền mua hàng. T vào mạng Internet tìm mua 01 Chứng minh nhân dân và 01 giấy phép lái xe tên Tạ Tấn Phát của một thanh niên (không rõ lai lịch) với giá 300.000 đồng. Sau đó T gọi điện đến Công ty tài chính H đề nghị lập hồ sơ vay tiền mua trả góp điện thoại thông qua công ty bán điện thoại “thế giới di động” thì được công ty này đồng ý. Sau đó T đã thay ảnh của bản thân vào, mang Chứng minh nhân dân và giấy phép lái xe đến cửa hàng bán điện thoại “thế giới di động” số 222 đường Trường Chinh, phường T Hưng Thuận, Quận 12 ký hợp đồng vay tiền với công ty H để mua trả góp 01 điện thoại di động hiệu OPPO R7S với giá 9.490.000 đồng. T trả trước 20% tương đương 2.000.000 đồng. Cộng cả phí bảo hiểm, số tiền mà T vay của H là 7.847.000 đồng. Thời hạn trả góp là 09 tháng, lãi suất 6,68%/tháng. Cùng ngày H đã chuyển trả số tiền trên hợp đồng vay cho Công ty thế giới di động và T đã nhận chiếc điện thoại di động hiệu OPPO R7S. Sau khi nhận được điện thoại, T đã đem bán chiếc điện thoại trên cho một phụ nữ (không rõ lai lịch) tại ngã tư Bà Điểm, Hóc Môn với giá 6.500.000 tiêu xài và không đóng tiền trả góp cho Home credit.
Hành vi dùng giấy tờ mang tên người khác rồi dán ảnh của bản thân vào, dùng giấy tờ trên vay tiền mua sắm điện thoại di động rồi bán lấy tiền tiêu xài. Không thực hiện nghĩa vụ thanh toán, nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác là hành vi dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác của Lương Duy T đã phạm vào tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Tội phạm được quy định tại Điều 139 Bộ luật hình sự năm 1999.
Về trách nhiệm hình sự: Tại kết luận giám định số 993/KLGĐ-TT ngày 01/8/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: Chữ ký “Phát”, chữ viết họ và tên “Tạ Tấn Phát” trên tài liệu cần giám định ký hiệu A1, A2, A3 so với chữ ký và chữ viết của Lương Duy T trên tài liệu dùng làm mẫu so sánh ký hiệu M1, M2 do cùng một người ký và viết ra.
Bị cáo T mua trả góp 01 điện thoại di động hiệu OPPO R7S với giá 9.490.000 đồng, đã trả trước 20% tương đương 2.000.000 đồng. Cộng cả phí bảo hiểm, số tiền vay của H còn lại là 7.847.000 đồng chưa thanh toán cho đến khi khởi tố vụ án.
Như vậy, có đủ cơ sở khẳng định hành vi của Lương Duy T đã phạm vào tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 139 Bộ luật hình sự năm 1999.
Hành vi nêu trên của Lương Duy T là nguy hiểm, đã xâm phạm đến tài sản của người khác, gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Trong quá trình được tại ngoại, bị cáo đi khỏi nơi cư trú không khai báo với chính quyền địa phương, gây khó khăn trong việc triệu trập xét xử. Do vậy, cần phải xử lý nghiêm đối với bị cáo để nhằm răn đe, phòng ngừa và chống tội phạm. Bản án xử bị cáo phải có tác dụng cải tạo và giáo dục, đồng thời làm gương cho những người khác.
Tuy nhiên, khi lượng hình cũng xem xét các tình tiết, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn; đã nộp lại tài sản chiếm đoạt để khắc phục hậu quả, gia đình có công với cách mạng, để áp dụng các điểm b, h, i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự giảm nhẹ một phần hình phạt mà lẽ ra bị cáo phải chịu.
Đối với hành vi mua giấy tờ mang tên người khác rồi lấy ảnh bản thân thay vào rồi dùng vào mục đích phạm tội. Do Lương Duy T đã làm thất lạc giấy tờ nên chưa có tài liệu giám định so sánh. Cơ quan điều tra xác minh, thu thập làm rõ sẽ xử lý sau về hành vi Sửa chữa và sử dụng giấy chứng nhận, các tài liệu của cơ quan, tổ chức theo Điều 340 Bộ luật hình sự năm 2015.
Đối với người thanh niên đã bán Chứng minh nhân dân và Giấy phép lái xe mang tên Tạ Tấn Phát cho bị cáo T , Cơ quan điều tra tiếp tục làm rõ sẽ xử lý sau.
Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: Người bị hại yêu cầu bồi thường 7.847.000 đồng, bị cáo đã tự nguyện nộp lại.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Lương Duy T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 139 Bộ luật hình sự năm 1999; các điểm b, h, i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.
Xử phạt bị cáo Lương Duy T 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án.
Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015
- Trả cho: Công ty tài chính TNHH MTV H Việt Nam số tiền 7.847.000 đồng
(Theo Lệnh xuất kho vật chứng 142/L-VKS ngày 09/11/2017 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh).
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng.
Bị cáo, đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND Tp. Hồ Chí Minh; (01) - VKSND Quâ ̣n 12; (02) - THADS Quâ ̣n 12; (02) - Phòng PC53 CA Tp. HCM; (01) - Công an Quâ ̣n 12; (02) - UBND nơi bị cáo cư trú; (01) - Bị cáo; (01) - Người tham gia tố tụng khác; (01) - Lưu hồ sơ vụ án. T 20/. (05) | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ma Văn Nhất |