vanban.org

Bản án 90/2019/HSST — Hình sự

TAND huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên Tuyên án 29/11/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Duy H phạm tội “Trộm cắp tài sản”

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Duy H 12 (Mười hai) tháng tù giam, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành bản án này. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận giữa người bị hại với bị cáo. Bị cáo có trách nhiệm bồi thường cho người bị hại số tiền… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyên Duy H - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Duy H phạm tội “Trộm cắp tài sản”
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÚ LƯƠNG
TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 90/2019/HSST
Ngày 29 tháng 11 năm 2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ LƯƠNG -TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Hồng Nam;

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Ngọc Ngư;

2. Bà Đỗ Thanh Bình.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Mạnh, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Lương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lương tham gia phiên tòa: Bà Lý Thị Tuyết, Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 11 năm 2019, tại Hội trường Tòa án nhân dân huyện Phú Lương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 70/2019/TLST-HS, ngày 23 tháng 8 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 69/2019/QĐXXST- HS ngày 01 tháng 10 năm 2019.

Đối với bị cáo: Nguyễn Duy H, sinh ngày 03 tháng 02 năm 1985. Tên gọi khác: Không

Nơi ĐKNKTT và chỗ ở: Tiểu Khu Giang L, Thị trấn Giang T, huyện Phú L, tỉnh Thái Nguyên.

- Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không ;

Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Tự do. Họ tên bố: Nguyễn Như Nh - Sinh năm: 1952. Họ tên mẹ: Nguyễn Thị V - Sinh năm: 1958. Vợ, con: Chưa có. Gia đình có 03 anh, chị, em. Bị cáo là con thứ 3 trong gia đình. Tiền án: Không

- Tiền sự đã có 03 lần bị xử phạt hành chính:

+ Ngày 17/12/2018, Công an thị xã Phổ Yên, Thái Nguyên xử phạt Nguyễn Duy H 750.000đ về hành vi Mua dâm. Nộp phạt ngày 15/5/2019 (BL số 111 - 114).

+ Ngày 05/9/2018, Công an Phường Tích Lương, Thành Phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên xử phạt Nguyễn Duy H 350.000đ về hành vi Đánh bạc. Nộp phạt ngày 07/9/2018.

+ Ngày 03/8/2018, Công an huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên xử phạt Nguyễn Duy H 3.500.000đ về hành vi Cố ý làm hư hỏng tài sản. Chưa nộp phạt.

- Nhân thân:

+ Năm 2011, TAND Thành Phố Thái Nguyên xử phạt Nguyễn Duy H 3 năm tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 42 tháng. Đã chấp hành xong.

+ Ngày 30/5/2016, Phòng CSHS Công an tỉnh Thái Nguyên xử phạt Nguyễn Duy H 350.000đ về hành vi Đánh bạc. Nộp phạt ngày 31/5/2016.

Bị cáo hiện đang tại ngoại tại địa phương. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người bị hại:

Bà Trương Thị C – sinh năm 1945.

Cùng trú tại: Tiểu khu Giang L, thị trấn Giang T, huyện Phú L,

tỉnh Thái Nguyên. Có mặt

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Anh Đinh Văn V – sinh năm 1965. Vắng mặt

Trú tại: Xóm Làng L, xã Động Đ, huyện Phú L, tỉnh Thái Nguyên

2. Anh Trương Quang Th – sinh năm 1978. Vắng mặt

Trú tại: Xóm Liên H 8, xã Vô Tr, huyện Phú L, tỉnh Thái Nguyên.

- Người làm chứng:

Anh Nguyễn Đức H – sinh năm 1981. Vắng mặt

Trú tại: Xóm Cổ L, xã Cổ L, huyện Phú L, tỉnh Thái Nguyên.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 20/5/2019 Nguyễn Duy H đang ở lán trông coi rừng cùng với ông Đinh Văn V (sinh năm: 1965, trú quán: xóm Làng L, xã Động Đ, huyện Phú L). H hỏi mượn xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave BKS: 20L5 – 7970 để về nhà, ông V đồng ý. Sau khi mượn được xe H nảy sinh ý định về xóm trộm cắp máy giặt của gia đình bà Trương Thị C (sinh năm: 1945, trú tại: Tiểu Khu Giang L, Thị trấn Giang T, huyện Phú L, tỉnh Thái Nguyên) vì H ở cùng xóm với bà C nên thỉnh thoảng H sang nhà bà C chơi và biết rõ vị trí để máy giặt của gia đình bà C. Khi đi H mang theo 01 tua vít dài khoảng 27 cm và 01 đèn pin vỏ nhựa màu xanh. Thấy còn sớm và H nghĩ lúc này gia đình bà C chưa ngủ nên H điều khiển xe đi đến nhà anh Trương Quang Th (sinh năm: 1978, trú quán: Liên H 8, xã Vô Tr, huyện Phú L) để chơi và hỏi vay anh Th 600.000 đồng. Vay được tiền H đi xuống Thành Phố Thái Nguyên tiêu xài cá nhân hết.

Đến khoảng 22 giờ 30 phút cùng ngày H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave BKS: 20L5 – 7970 đi theo đường QL3 rẽ vào đường đi Trung tâm chữa bệnh – Giáo dục – Lao động – Xã hội huyện Phú L, đến khu vực bờ sông Giang T thuộc địa phận xóm Cổ L, xã Cổ L, huyện Phú L. H đỗ xe lại rồi lội qua sông đi bộ đến khu vực nhà bà C, quan sát thấy gia đình bà C đã ngủ, H trèo tường rào vào bên trong, dùng đèn pin soi đi đến chỗ để máy giặt nhãn hiệu Panasonic, khối lượng giặt 7kg, kiểu loại lồng đứng, H dùng tua vít mang theo tháo ống cấp nước sau đó bê chiếc máy giặt về phía tường rào rồi dùng dây chun cao su cuốn quanh máy giặt để đưa chiếc máy giặt ra ngoài tường rào. Sau đó H vác máy giặt qua sông đến chỗ để xe máy thì gặp anh Nguyễn Đức H (sinh năm: 1981, trú tại: xóm Cổ L, xã Cổ L, huyện Phú L) đang soi cá, H nhờ anh H bê giúp chiếc máy giặt lên xe máy nhưng anh H không giúp. Sau khi trộm cắp được máy giặt, H chở máy giặt đến bán cho anh Th với giá 1.000.000 đồng, trừ số tiền H đã vay lúc trước nên anh Th đưa cho Hưng 400.000 đồng. Số tiền trên H đã tiêu sài cá nhân hết.

Khoảng 7 giờ ngày 21/5/2019 bà Trương Thị C phát hiện gia đình bà bị mất máy giặt nên bà đến Công an Thị Trấn Giang T trình báo. Công an thị trấn đến lập biên bản sự việc sau đó chuyển đến Cơ quan CSĐT Công an huyện Phú Lương điều tra theo thẩm quyền.

Ngày 21/5/2019, anh Trương Quang Th giao nộp cho cơ quan CSĐT Công an huyện Phú L 01 chiếc máy giặt nhãn hiệu Panasonic, khối lượng giặt 7kg, kiểu loại lồng đứng, bà Trương Thị C giao nộp 01 (một) tua vít dài 27cm bà tìm thấy ở chỗ gia đình bà để máy giặt, ông Đinh Văn V giao nộp 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave BKS: 20L5 – 7970 và 01 dây chun cao su màu đen. Ngày 22/5/2019, Nguyễn Duy H đã đến cơ quan điều tra giao nộp 01 đèn pin vỏ nhựa màu xanh.

Tại bản kết luận số 34/KL - ĐG ngày 23/5/2019 của hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Phú Lương kết luận: 01 chiếc máy giặt nhãn hiệu Panasonic, khối lượng giặt 7kg, kiểu loại lồng đứng do H trộm cắp của gia đình bà Trương Thị C trị giá 2.280.000đ.

Tại cơ quan điều tra Nguyễn Duy H đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nêu trên. Lời nhận tội của bị cáo H phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ như biên bản sự việc, lời khai của người làm chứng, bị hại, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu khác thu thập được có trong hồ sơ vụ án.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nêu trên. Xác định không bị ép cung, nhục hình, khai báo trong tình trạng sức khỏe tốt, tỉnh táo. Được nhận bản cáo trạng, đã đọc kỹ và nghe công bố tại phiên tòa, không thắc mắc về nội dung bản cáo trạng. Được nhận quyết định đưa vụ án ra xét xử.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Nguyễn Duy H. Bản cáo trạng số 65/CT-VKSPL ngày 20 tháng 8 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lương truy tố bị cáo Nguyễn Duy H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 BLHS

Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Duy H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38, 47, 48 BLHS. Điều 106BLTTHS. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Duy H từ 12 đến 15 tháng tù giam. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về dân sự: Đề nghị ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận bồi thường giữa bị cáo và người bị hại số tiền 2.000.000đ (Hai triệu đồng chẵn)

Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) tua vít dài 27cm, 01 đèn pin vỏ nhựa màu xanh và 01 dây chun cao su màu đen đang được bảo quản theo quy định của pháp luật.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự và dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Tại phần tranh tụng: Bị cáo, bị hại không tranh tụng gì

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo không có ý kiến gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Phú Lương, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Xét về hành vi của bị cáo: Bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai nhận tội của bị cáo là khách quan, phù hợp với biên bản làm việc, vật chứng thu giữ, lời khai của người bị hại, người làm chứng và những chứng cứ, tài liệu khác được thu thập có trong hồ sơ vụ án, như vậy có đủ cơ sở khẳng định:

Hồi 23 giờ 30 phút ngày 20/5/2019, Nguyễn Duy H đã đột nhập vào nhà bà Trương Thị C tại Tiểu Khu Giang L, Thị trấn Giang T, huyện Phú L, tỉnh Thái Nguyên Nguyễn Duy H lấy trộm 01 chiếc máy giặt nhãn hiệu Panasonic, khối lượng giặt 7kg, kiểu loại lồng đứng có giá trị 2.280.000đ (hai triệu hai trăm tám mươi nghìn đồng) của gia đình bà C. Ngay sau đó sự việc được phát hiện, tài sản trên đã được cơ quan điều tra thu hồi trả cho bà C quản lý sử dụng.

Do đó bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lương truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1, Điều 173 BLHS là hoàn toàn có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

Nội dung khoản 1, Điều 173 BLHS năm 2015 quy định như sau:

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng,...thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”

Xét tính chất của vụ án thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm, đã trực tiếp xâm phạm và gây thiệt hại đến tài sản của người khác, gây mất trật tự an ninh ở địa phương, đi ngược lại với công cuộc bài trừ tệ nạn xã hội, gây ảnh hưởng xấu trong quần chúng nhân dân. Do vậy bị cáo phải chịu hình phạt mà điều luật quy định.

Xét các yếu tố về nhân thân của bị cáo thấy rằng: Bị cáo có là người có

nhân thân sấu 04 lần bị xử lý hành chính, một lần bị xử lý hình sự trong đó có 03 tiền sự chưa chấp hành xong, nay lại phạm tội mới; tiền án; không.

Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình và tại phiên tòa người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, do vậy bị cáo được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51. Bị cáo không phải chịu tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các yếu tố về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy cần phải có mức án nghiêm minh đối với bị cáo đảm bảo giáo dục bị cáo, đồng thời răn đe phòng ngừa chung. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo do bị cáo không có công việc ổn định, không có tài sản.

Trách nhiệm dân sự: Người bị hại là bà Trương Thị C đã nhận lại tài sản là chiếc máy giặt, nhưng tại phiên tòa bà có yêu cầu khi đem máy giặt về thì máy bị chục trặc đem sửa mất nhiều tiền nay tại tòa bà yêu cầu bị cáo phải có trách nhiệm bồi thường cho bà số tiền 2.000.000 đồng và tại phiên tòa bị cáo cũng nhất trí và đồng ý với yêu cầu của bị hại nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận bồi thường giữa bị cáo và người bị hại. Anh Trương Quang Th không yêu cầu bị cáo H phải trả số tiền 1.000.000 đồng.

Về vật chứng của vụ án: Là 01 (một) tua vít dài 27cm, 01 đèn pin vỏ

nhựa màu xanh và 01 dây chun cao su màu đen là công cụ phương tiện phục vụ cho việc gây án, vì vậy cần tịch thu tiêu hủy.

Ngày 17/6/2019, Cơ quan CSĐT Công an huyện Phú Lương trả chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave BKS: 20L5 – 7970 cho ông Đinh Văn V là chủ sở hữu quản lý sử dụng. Vì vậy phần dân sự HĐXX không xem xét giải quyết

Về án phí: Cần buộc bị cáo chịu án phí HSST theo quy định của pháp

luật.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà về hình phạt cũng như các vấn đề khác là phù hợp nên cần được chấp nhận.

Trong vụ án này có anh Trương Quang Th do không biết chiếc máy giặt là tài sản do H trộm cắp nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Phú Lương không có cơ sở để xử lý.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173 BLHS; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38, 47, 48 BLHS; Điều 106, 135, 136 BLTTHS; Các Điều 357, 468, 589 BLDS; luật phí,lệ phí và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Duy H phạm tội “Trộm cắp tài sản”

1. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Duy H 12 (Mười hai) tháng tù giam, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành bản án này. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

2. Về dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận giữa người bị hại với bị cáo. Bị cáo có trách nhiệm bồi thường cho người bị hại số tiền là 2.000.000đ (Hai triệu đồng chẵn). Kể từ khi quyết định có hiệu lực pháp luật, bà C có đơn yêu cầu thi hành án nếu bị cáo không nộp được số tiền trên thì hàng tháng còn phải chịu lãi đối với số tiền chậm trả theo mức lãi xuất cơ bản tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán. Lãi suất chậm trả đối với khoản tiền chậm thi hành án được thực hiện theo quy định của Bộ luật dân sự.

Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 2,7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

2. Vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) tua vít dài 27cm, 01 đèn pin vỏ nhựa màu xanh và 01 dây chun cao su màu đen (Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận ngày tháng năm 2019 giữa Công an huyện Phú Lương và Chi cục thi hành án đãn sự huyện Phú Lương.

3. Án phí: Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 300.000đ tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm báo cho bị cáo, người bị hại biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng tại phiên tòa.

Cỡ chữ