vanban.org

Bản án 90/2019/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương Tuyên án 28/05/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Hoàng Ng c T phạm tội “Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.

/ Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Hoàng Ng c T 09 (chín) tháng tù nhƣng cho hƣởng án treo. Thời gian thử thách là 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tính từ ngày Tòa tuyên án 28/5/2019. Giao bị cáo Hoàng Ng c T về Ủy ban nhân dân Phƣờng 14, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát giáo dục bị cáo trong thời gia… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "HOANG NGOC T - “Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” - phạm tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụ…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Hoàng Ng c T phạm tội “Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự và Nghị; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 90/2019/HS - ST
Ngày: 28-5-2019.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Tâm.

Các Hội thẩm nhân dân:

1./ Bà Nguyễn Thị Mỹ Dung

2./ Ông Phạm Văn Lâm.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng Vân – Thƣ ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành ph Thủ Dầu Một tham gia phiên tòa: Ông Lê Minh Điền - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 22 và 28 tháng 5 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dƣơng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 49/2019/HSST ngày 21 tháng 3 năm 2019 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 42/2019/QĐXXST – HS ngày 19 tháng 4 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 50/2019/HSST-QĐ ngày 02 tháng 5 năm 2019 đối với bị cáo:

H và tên: Hoàng Ngọc T, sinh năm 1984. Tại: T; Nơi ĐKHKTT: Số 49P3/12A, H, Phƣờng 14, Quận 8, Thành phố H; Trình độ h c vấn: 06/12; Nghề nghiệp: Công nhân; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Con ông Hoàng Ng c T và bà Hồ Thị Đ; bị cáo có vợ là Phạm Thị Kim P và 01 con; Tiền án, tiền sự, nhân thân: không; Ngày 10/4/2018 bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thủ Dầu Một khởi tố vụ án, khởi tố bị can và áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cƣ trú theo Lệnh cấm khỏi nơi cƣ trú số 102 ngày 10/4/2018 và tại ngoại cho đến nay; có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Công ty TNHH một thành viên tài chính P Việt Nam. Trụ sở: Tòa nhà trung tâm thƣơng mại Sài Gòn, số 37, đƣờng T, Quận 1, Thành phố H. Ngƣời đại diện theo pháp luật: Ông A.

Ngƣời đại điện theo ủy quyền: Ông Lê Minh C, sinh năm 1985. Địa chỉ: số 123A, T, Phƣờng 7, Quận 3, Thành phố H. (vắng mặt)

Người làm chứng: Nguyễn Phạm Xuân Đ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Hoàng Ng c T là công nhân của Công ty trách nhiệm hữu hạn may mặc B, có trụ sở tại lô K1-2-3-4, đƣờng số 6, khu công nghiệp Đ, thị xã T, tỉnh B. Trong thời gian làm công nhân, Hoàng Ng c T đã làm thủ tục vay tiền của 02 ngân hàng và 01 Công ty tài chính với tổng số tiền vay là 192.000.000 đồng. Để có tiền tiêu xài, T nảy sinh ý định sẽ làm bộ hồ sơ cá nhân giả để vay tiền của Công ty trách nhiệm hữu hạn tài chính P – Chi nhánh thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dƣơng, có trụ sở tại phƣờng Phú Cƣờng, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dƣơng.

Để thực hiện ý định trên, khoảng tháng 6 năm 2017 Hoàng Ng c T thông qua mối quan hệ ngoài xã hội với ngƣời nam tên Đ (không rõ nhân than, lai lịch) là ngƣời chuyên làm hồ sơ giả để vay vốn của ngân hàng, công ty tài chính. Tâm sử dụng điện thoại di động hiệu Oppo (không rõ số thuê bao) liên hệ với Đ và nói cho Đ biết là T cần làm bộ hồ sơ giả để làm thủ tục vay tiền của Công ty tài chính do trƣớc đó T đã vay tiền của 02 ngân hàng, 01 công ty tài chính chƣa trả hết. Khi nghe T nói, Đ nói để để tính sau. Sau đó khoảng 01 tuần T điện thoại cho Đ thì Đ yêu cầu T đ c thông tin cá nhân của T cho Đ, khi nào làm đƣợc Đ sẽ chủ động điện thoại cho T.

Đến khoảng đầu tháng 7 năm 2017 (T không nhớ rõ ngày cụ thể), Đ điện thoại cho T nói với T là hồ sơ cá nhân xin vay vốn của T hiện Đ đang làm và thỏa thuận với T khi nào vay đƣợc tiền T phải chi cho Đ số tiền từ 10% đến 20% trên tổng số tiền T vay đƣợc thì T đồng ý. Đến khoảng giữa tháng 7 năm 2017 có một ngƣời nam tên H điện thoại cho T và hẹn gặp T tại trƣớc cổng khu công nghiệp Đ, thuộc tỉnh lộ 43, thị xã T, tỉnh B. Khi gặp H, H đƣa cho T một tờ giấy trên đó có ghi các thông tin cho T đ c, để khi T đến Công ty tài chính P trả lời cho nhân viên thẩm định nhƣng sau đó việc thẩm định không thành công do T đ c sai mã số nhân viên mà T cung cấp. Đến khoảng 08 giờ ngày 13/7/2017, H điện thoại cho T hẹn T ở cổng khu công nghiệp Đ và đƣa cho T một bộ hồ sơ giả tên Hoằng Ng c T để T làm thủ tục vay số tiền 100.000.000 đồng tại Công ty tài chính P - Chi nhánh thành phố Thủ Dầu Một, bộ hồ sơ gồm: 01 Giấy xác nhận mã số nhân viên, 01 sổ hộ khẩu photo 01 sổ tạm trú, 02 bản hợp đồng lao động, 01 Giấy chứng minh nhân dân tên Hoằng Ng c T, sinh năm 1985 có dán hình ảnh của T. Đến khoảng 09 giờ ngày 14/7/2017, khi T đem toàn bộ hồ sở giả đến Công ty tài chính P chi nhánh thành phố Thủ Dầu Một có trụ sở tại phƣờng Phú Cƣờng, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dƣơng để nộp cho Công ty tài chính xem xét, phê duyệt cho T vay số tiền 100.000.000 đồng thì bị nhân viên công ty chính P chi nhánh thành phố Thủ Dầu là chị Nguyễn Phạm Xuân Đ, sinh năm 1994, đăng ký hộ khẩu thƣờng trú tại khu phố T, phƣờng N, thị xã A, tỉnh B nghi ngờ toàn bộ hồ sơ của T là giả nên báo Ban lãnh đạo Công ty tài chính P chi nhánh thành phố Thủ Dầu Một. Ngay lúc đó, Công ty tài chính P chi nhánh thành phố Thủ Dầu Một trình báo sự việc đến Phòng an ninh kinh tế Công an tỉnh Bình Dƣơng. Cùng ngày Phòng an ninh kinh tế Công an tỉnh Bình Dƣơng chuyển hồ sơ vụ việc đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Thuận An và Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Thuận An chuyển hồ sơ vụ việc đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thủ Dầu Một để giải quyết theo thẩm quyền.

Ngày 07/12/2017 và ngày 21/01/2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thủ Dầu Một ra Quyết định trƣng cầu giám định số 19 và số 82 gửi đến Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dƣơng để trƣng cầu giám định:

- Mẫu dấu của Công ty trách nhiệm hữu hạn may mặc B trong đơn xin xác nhận của Hoằng Ng c T, sinh năm 1985, hộ khẩu thƣờng trú 9D3/12 H, phƣờng 14, quận 8, thành phố H kính gửi ban giám đốc Công ty trách nhiệm hữu hạn may mặc B Việt Nam đề ngày 11/7/2017 (tài liệu cần giám định) là thật hay giả?

- Chữ ký của trƣởng phòng nhân sự - Công ty trách nhiệm hữu hạn may mặc B Việt Nam trong đơn xi xác nhận của Hoằng Ng c T, sinh năm 1985, hộ khẩu thƣờng trú 9D3/12 H, phƣờng 14, quận 8, thành phố H kính gửi ban giám đốc Công ty trách nhiệm hữu hạn may mặc B Việt Nam đề ngày 11/7/2017 (tài liệu cần giám định) là thật hay giả?

- Mẫu dấu của Công an phƣờng Bình Hòa, thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng trong sổ tạm trú số 080998260 (tài liệu cần giám định) là thật hay giả?

- Chữ ký của đồng chí Lê Hoàng P Phó trƣởng Công an phƣờng Bình Hòa, thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng trong sổ tạm trú số 080998260 (tài liệu cần giám định) là thật hay giả?

- Giấy chứng minh nhân dân mang tên Hoằng Ng c T sinh năm 1985 số 025913838 do Công an thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 16/02/2011 (tài liệu cần giám định) là thật hay giả?

Căn cứ Bản kết luận giám định số 470/GĐ-PC54 ngày 22/12/2017 và Bản kết luận số 31/GĐ-PC54 ngày 09/02/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Bình, kết luận:

- Chữ ký mang tên “Lê Hoàng P” và hình dấu tròn có nội dung “*CÔNG AN PHƢỜNG BÌNH HÒA*THUẬN AN – T BÌNH DƢƠNG” đƣợc đánh số từ 1 và 2 trên 01 (một) “Sổ tạm trú”, số 080998260, đề ngày 07/6/2017 (ký hiệu A2) so với chữ ký của Lê Hoàng P và hình dấu tròn có nội dung “*CÔNG AN PHƢỜNG BÌNH HÒA*CÔNG AN THỊ XÃ THUẬN AN T BÌNH DƢƠNG” trên các tài liệu mẫu (ký hiệu từ M1 đến M4) không phải do cùng một ngƣời ký và một con dấu đóng ra.

- Hình dấu tròn có nội dung “*S.G.P:326 – Đ.T.N.NG*THUẬN AN – T. BÌNH DƢƠNG CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN MAY MẶC B (VIỆT NAM)” trên 01 (một) “Đơn xin xác nhận”, đề ngày 11/7/2017 (ký hiệu A3) so với hình dấu tròn có nội dung “*S.G.P:326 – Đ.T.N.NG * TX. THUẬN AN – T. BÌNH DƢƠNG CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN MAY MẶC B (VIET NAM)” trên các tài liệu mẫu (ký hiệu từ M5 đến M8) không phải do cùng một con dấu đóng ra.

- Chữ ký mang tên “F” dƣới mục “Xác nhận của công ty (Ký, ghi rõ h tên, chức vụ, đóng dấu) trên 01 (một) “Đơn xin xác nhận”, đề ngày 11/7/2017 (ký hiệu A3) so với chữ ký của Fatima trên các tài liệu mẫu (ký hiệu M5 và M6) không cùng dạng nên không tiến hành giám định.

- Chế bản in “Giấy chứng minh nhân dân”, số 0259138xx, h tên Hoằng Ng c T”, sinh năm 1985, nơi ĐKHK thƣờng trú: H, phƣờng 14, quận 8, thành phố H, đề ngày 16/02/2011 (ký hiệu A) so với chế bản in trên các tài liệu mẫu (ký hiệu M1 và M2) không phải do cùng một chế bản in ra.

Đối với ngƣời nam tên Đ và ngƣời nam tên H có hành vi cung cấp tài liệu giả cho Hoàng Ng c T. Quá trình điều tra, T khai nhận là T quen biết ngoài xã hội, không biết h tên, địa chỉ cụ thể nên không có căn cứ để xác minh, điều tra, xử lý theo quy định.

Đối với điện thoại di động hiệu Oppo (không rõ số thuê bao do không mở đƣợc nguồn và T không nhớ số điện thoại của mình) đã tạm giữ của Hoàng Ng c T. Quá trình điều tra, xác định: T sử dụng điện thoại trên để làm phƣơng tiện thực hiện hành vi phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thủ Dầu Một chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thủ Dầu Một.

Cáo trạng số 48/CT - VKS - HS ngày 19/3/2019 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một truy tố bị cáo Hoàng Ng c T về tội “Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo khoản 1 Điều 341 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 341; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Hoàng Ng c T mức hình phạt từ 09 đến 12 tháng tù.

Về biện pháp tƣ pháp: Đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu nộp vào Ngân sách nhà nƣớc một điện thoại di động đã qua sử dụng hiệu Oppo (không mở đƣợc nguồn) không kiểm tra chi tiết tình trạng hoạt động.

Tại phiên tòa, bị cáo Hoàng Ng c T không có ý kiến tranh luận chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, Kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản bắt ngƣời có hành vi phạm tội quả tang, lời khai tại cơ quan điều tra, biên bản hỏi cung bị can, kết luận giám định cùng những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Ngày 14/7/2017 Hoàng Ng c T có hành vi sử dụng tài liệu giả gồm 01 giấy xác nhận mã số nhân viên, 01 sổ hộ khẩu photo, 01 sổ tạm trú, 02 bản hợp đồng lao động, 01 giấy chứng minh nhân dân tên Hoàng Ng c T để vay số tiền 100.000.000 đồng của Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên tài chính P Việt Nam Chi nhánh thành phố Thủ Dầu Một, có trụ sở tại phƣờng Phú Cƣờng, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dƣơng nhƣng chƣa vay đƣợc số tiền 100.000.000 đồng thì bị phát hiện nên hành vi mà bị cáo T thực hiện đã hội đủ yếu tố cấu thành tội “Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” đƣợc quy định tại khoản 1 Điều 341 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Do vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một truy tố bị cáo theo tội danh và điều khoản nhƣ trên là hoàn toàn có căn cứ và đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo T là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính của Nhà nƣớc, gây mất uy tín của các Cơ quan nhà nƣớc, làm mất lòng tin của nhân dân. Bị cáo nhận thức đƣợc hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhƣng vì tham lam, để đạt đƣợc mục đích (vay đƣợc tiền) mà bị cáo đã bất chấp sự trừng phạt của pháp luật thực hiện hành vi phạm tội với l i cố ý trực tiếp. Do đó, để có tác dụng giáo dục bị cáo ý thức tuân theo pháp luật, đồng thời nhằm đấu tranh phòng chống tội phạm chung, cần có mức hình phạt nghiêm, tƣơng xứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện đồng thời nhằm răn đe và phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng nhƣ tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo có nhân thân tốt chƣa có tiền án tiền sự, bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trƣờng hợp ít nghiêm tr ng. Đây là các tình tiết giảm nhẹ đƣợc quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự mà Hội đồng xét xử sẽ áp dụng khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.

Căn cứ vào nhân thân, tính chất mức độ hành vi phạm tội cũng nhƣ tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, xét mức hình phạt mà Đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo là phù hợp. Tuy nhiên do bị cáo có nhân thân tốt, nơi cƣ trú rõ ràng, phạm tội lần đầu nên không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự và Nghị quyết số 02/2018/NQ – HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao cho bị cáo Tâm đƣợc hƣởng án treo cũng không làm ảnh hƣởng đến công tác phòng chống tội phạm chung tại địa phƣơng.

Về biện pháp tƣ pháp: Tịch thu nộp vào Ngân sách nhà nƣớc 01 (một) điện thoại di động đã qua sử dụng hiệu Oppo (không mở đƣợc nguồn) không kiểm tra chi tiết tình trạng hoạt động.

Án phí sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 341; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65, Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Các Điều 106, 136, 260 và 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 02/2018/NQ – HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên bố bị cáo Hoàng Ng c T phạm tội “Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.

1./ Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Hoàng Ng c T 09 (chín) tháng tù nhƣng cho hƣởng án treo. Thời gian thử thách là 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tính từ ngày Tòa tuyên án 28/5/2019.

Giao bị cáo Hoàng Ng c T về Ủy ban nhân dân Phƣờng 14, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trƣờng hợp ngƣời đƣợc hƣởng án treo thay đổi nơi cƣ trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo Hoàng Ng c T cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc ngƣời đƣợc hƣởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hƣởng án treo” theo quy định tại khoản 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

2./ Về biện pháp tƣ pháp tuyên: Tịch thu nộp vào Ngân sách nhà nƣớc (01) một điện thoại di động đã qua sử dụng hiệu Oppo (không mở đƣợc nguồn) không kiểm tra chi tiết tình trạng hoạt động.

(Thể hiện tại biên bản giao nhận vật chứng số 076.19 ngày 31/01/2019 giữa Chi cục Thi hành án dân sự và và Công an thành phố Thủ Dầu Một).

3/ Về án phí: Buộc bị cáo Hoàng Ng c T phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo đƣợc quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt đƣợc quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mƣời lăm) ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc đƣợc niêm yết công khai./.

Cỡ chữ