- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Yêu cầu ly hôn, nuôi con"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Dương Mỹ L ly hôn với anh Trần Quốc B.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN U MINH TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 90/2019/HNGĐ-ST Ngày 13-9-2019 V/v tranh chấp ly hôn và nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN U MINH, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Ý
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Đỗ Minh Lắm
Ông Trịnh Hữu Hiệp
- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Lụa là Thư ký Tòa án nhân dân huyện U Minh, tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện U Minh, tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Ông Lê Quốc Nin - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 9 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện U Minh, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 194/2019/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 7 năm 2019 về tranh chấp ly hôn và nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 214/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 8 năm 2019 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Dương Mỹ L, sinh năm 1987 (có mặt).
Nơi cư trú: Ấp 4, xã K, huyện U, tỉnh Cà Mau.
- Bị đơn: Anh Trần Quốc B, sinh năm 1985 (xin vắng mặt).
Nơi cư trú: Ấp 4, xã K, huyện U, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 02/7/2019 và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Dương Mỹ L trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Trần Quốc B tự nguyện chung sống với nhau có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện U, tỉnh Cà Mau vào năm 2012. Trong quá trình chung sống vợ chồng không được hạnh phúc, nguyên nhân là do anh B không lo làm ăn, không quan tâm đến cuộc sống gia đình, bỏ mặc chị tự bươn chải nuôi các con nên vợ chồng thường xảy ra giận dỗi, cự cãi. Gia đình hai bên đã có dàn xếp hàn gắn mâu thuẫn nhưng không có kết quả. Nay chị nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc nên chị yêu cầu được ly hôn với anh B.
Về nuôi con chung: Quá trình chung sống có 02 con chung tên Trần Trọng Phúc sinh ngày 21/3/2007 và Trần Phúc Khang sinh ngày 12/02/2016, hiện nay do chị trực tiếp nuôi dưỡng. Sau khi ly hôn, chị yêu cầu tiếp tục nuôi dưỡng hai con và không yêu cầu anh B cấp dưỡng.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 21/8/2019, anh Trần Quốc B trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị L tự nguyện chung sống với nhau có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã K. Trong quá trình chung sống anh và chị L phát sinh mâu thuẫn. Hai bên gia đình đã hòa giải hàn gắn nhưng không có kết quả. Nay chị L yêu cầu ly hôn thì anh đồng ý.
Về nuôi con chung: Có 02 con chung tên Trần Trọng Phúc sinh ngày 21/3/2007 và Trần Phúc Khang sinh ngày 12/02/2016 đang sống chung với chị L. Sau khi ly hôn, anh đồng ý giao hai con chung cho chị L tiếp tục nuôi dưỡng, anh không cấp dưỡng, khi nào có điều kiện thì anh sẽ lo cho con.
Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết; Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Đồng thời, anh B yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu quan điểm: Về tố tụng, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã thực hiện đúng về nhiệm vụ quyền hạn theo quy của Bộ luật Tố tụng dân sự, đương sự đã thực hiện đúng về nhiệm vụ quyền hạn của mình theo quy định. Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị Dương Mỹ L về việc ly hôn với anh Trần Quốc B, giao hai con chung là Trần Trọng Phúc sinh ngày 21/3/2007 và Trần Phúc Khang sinh ngày 12/02/2016 cho chị L tiếp tục nuôi dưỡng, anh B có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Các đương sự không đặt ra vấn đề cấp dưỡng nên không xem xét. Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu nên không xem xét. Về án phí: đương sự phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với bị đơn và yêu cầu nuôi con chung nên xác định quan hệ pháp luật trong vụ án là tranh chấp ly hôn và nuôi con. Tại biên bản lấy lời khai ngày 21/8/2019 bị đơn là anh Trần Quốc B yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt nên căn cứ khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt anh B.
Về nội dung: Chị Dương Mỹ L và anh Trần Quốc B tự nguyện xác lập quan hệ hôn nhân và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện U, tỉnh Cà Mau vào ngày 18/12/2012 nên quan hệ hôn nhân giữa chị L và anh B là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo vệ.
Xét yêu cầu ly hôn của chị Dương Mỹ L, thấy rằng: Chị L và anh B đều xác định đời sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, gia đình hai bên đã hòa giải hàn gắn nhưng không có kết quả, hiện nay vợ chồng không còn tình cảm với nhau, cả hai đều có nguyện vọng được ly hôn. Điều này cho thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, tình nghĩa vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị L được ly hôn với anh B.
Về nuôi con chung: Chị L và anh B đều thống nhất sau khi ly hôn giao hai con chung tên Trần Trọng Phúc sinh ngày 21/3/2007 và Trần Phúc Khang sinh ngày 12/02/2016 cho chị L tiếp tục tiếp tục nuôi dưỡng, không đặt ra vấn đề cấp dưỡng. Tại văn bản ngày 23/7/2019, cháu Trần Trọng Phúc có nguyện vọng tiếp tục sống chung với chị L. Trên cơ sở xem xét điều kiện để phát triển về mọi mặt của con chung, nguyện vọng của con chung từ đủ 07 tuổi trở lên cũng phù hợp với sự thống nhất của chị L và anh B nên cần giao hai cháu Trần Trọng Phúc và Trần Phúc Khang cho chị L tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh B không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
Chị L và anh B không đặt ra vấn đề cấp dưỡng nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị L và anh B không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét trong vụ án này.
Từ những phân tích trên, xét thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên được chấp nhận.
Về án phí sơ thẩm: Chị L phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm 300.000 đồng theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Áp dụng các điều 51, 56, 81, 82 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Dương Mỹ L ly hôn với anh Trần Quốc B.
- Về nuôi con chung: Giao con chung là Trần Trọng Phúc (giới tính: nam) sinh ngày 21/3/2007 và cháu Trần Phúc Khang (giới tính: nam) sinh ngày 12/02/2016 cho chị Dương Mỹ L tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Trần Quốc B không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Chị L và anh B không yêu cầu giải quyết về phần cấp dưỡng.
- Về tài sản chung và nợ chung: Chị Dương Mỹ L và anh Trần Quốc B không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí: Chị Dương Mỹ L phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm 300.000 đồng. Chị Dương Mỹ L đã nộp tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm ngàn) đồng theo biên lai thu tiền số 0004458 ngày 02/7/2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện U, tỉnh Cà Mau được chuyển thu. Chị L đã nộp đủ án phí.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Chị Dương Mỹ L có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Anh Trần Quốc B có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết công khai bản án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Cà Mau; - VKSND huyện U Minh; - Chi cục THADS huyện U; - UBND xã K, huyện U; - Các đương sự; - Lưu: hồ sơ vụ án, văn thư. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Thị Hồng Ý |