vanban.org

Bản án 90/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trương Thị Thu K. Cho ly hôn giữa chị Trương Thị Thu K đối với anh Trương Văn N.

Về con chung: Giao cháu Trương Gia H sinh ngày 28/7/2012 cho chị K trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh N không phải cấp dưỡng nuôi con vì chị K không yêu cầu. Anh N được quyền thăm nom con chung, không ai được quyền cản trở. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Kien - nhut"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trương Thị Thu K. Cho ly hôn giữa chị Trương Thị Thu K đối với anh Trương Văn N.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRẢNG BÀNG
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 90/2019/HNGĐ-ST.
Ngày 27 - 9 - 2019.
V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BÀNG, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Văn Trưởng.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Ngô Minh Lý;

Ông Nguyễn Quang Phước.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Huỳnh Như là Thư ký Toà án nhân dân huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Đặng Văn Lớn - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 9 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 102/2019/TLST- HNGĐ ngày 15 tháng 02 năm 2019 về “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 79/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 8 năm 2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Trương Thị Thu K, sinh năm 1990; địa chỉ cư trú: Ấp BT, xã B, huyện T, tỉnh Tây Ninh; có mặt.

- Bị đơn: Anh Trương Văn N, sinh năm 1986; địa chỉ cư trú: Ấp BT, xã B, huyện T, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và các lời khai tại Tòa án, nguyên đơn chị Trương Thị Thu K trình bày:

Chị và anh Trương Văn N kết hôn từ năm 2006, có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B ngày 22/01/2014. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống cùng cha mẹ chồng được một thời gian thì ra riêng. Quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do anh N có quan hệ với người phụ nữ khác.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Trương Gia H sinh ngày 28/7/2012. Con chung hiện đang sống với chị.

Về tài sản chung: Không có.

Về nợ chung: Vợ chồng thiếu nợ chị Trần Thị Thu T số tiền 40.000.000 đồng, nợ Agribank chi nhánh Trảng Bàng – phòng giao dịch khu vực Bình Thạnh số tiền 30.000.000 đồng.

Nay chị K yêu cầu ly hôn với anh N. Khi ly hôn: Về con chung: Yêu cầu được tiếp tục nuôi; về tài sản chung: Không có; Về nợ chung: vợ chồng cùng có trách nhiệm trả.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 27 tháng 02 năm 2019, bị đơn anh Trương Văn N trình bày:

Nhận thấy thống nhất lời trình bày của chị K về hôn nhân, nguyên nhân mâu thuẫn, về con chung, tài sản chung và nợ chung. Nguyện vọng anh N đồng ý ly hôn với chị K. Khi ly hôn: Anh đồng ý giao chị K tiếp tục nuôi con chung. Về tài sản chung, nợ chung: Vợ chồng tự thỏa thuận.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh:

Về tố tụng: Việc tuân thủ pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và nguyên đơn thực hiện đầy đủ về quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Riêng bị đơn không thực hiện đầy đủ về quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82 của Luật Hôn nhân và gia đình xem xét quyết định:

- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Trương Thị Thu K.

- Về con chung: Giao cháu Trương Gia H sinh ngày 28/7/2012 cho chị K tiếp tục nuôi dưỡng. Anh N không phải cấp dưỡng nuôi con do chị K không yêu cầu.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHAÄN ÑÒNH CUÛA TOØA AÙN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử là phù hợp theo quy định tại Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về hôn nhân: Chị K và anh N tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2006, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B ngày 22/01/2014. Anh chị thừa nhận trong quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do anh N không chung thủy. Nay chị K và anh N cùng yêu cầu được ly hôn. Tuy nhiên, anh N vắng mặt nên Hội đồng xét xử không công nhận sự thuận tình ly hôn mà có căn cứ khẳng định mâu thuẫn giữa chị K và anh N là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị K là phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

[3] Về con chung: Cháu Trương Gia H sinh ngày 28/7/2012 đang sống với chị K. Khi ly hôn, chị K yêu cầu tiếp tục nuôi dưỡng con chung phù hợp với nguyện vọng của cháu H. Do đó, để bảo đảm quyền lợi tốt nhất cho con chung, cần giao cháu H cho chị K tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp quy định tại Điều 81, 82 của Luật Hôn nhân và gia đình. Anh N không phải cấp dưỡng nuôi con vì chị K không yêu cầu. Anh N được quyền thăm nom con chung, không ai được quyền cản trở.

[4] Về tài sản chung, nợ chung: Chị K, anh N không tranh chấp tài sản chung; chị Trần Thị Thu T và Agribank không yêu cầu chị K, anh N trả nợ trong vụ án này nên không đặt ra giải quyết.

[5] Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh tại phiên tòa là có căn cứ nên chấp nhận.

[6] Về án phí: Chị K là nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định tại khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

Tuyên xử :

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trương Thị Thu K. Cho ly hôn giữa chị Trương Thị Thu K đối với anh Trương Văn N.

2. Về con chung: Giao cháu Trương Gia H sinh ngày 28/7/2012 cho chị K trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh N không phải cấp dưỡng nuôi con vì chị K không yêu cầu. Anh N được quyền thăm nom con chung, không ai được quyền cản trở.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về án phí: Chị Trương Thị Thu K phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn là 300.000 đồng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0016821 ngày 15/02/2019 của Chi Cục thi hành án dân sự huyện Trảng Bàng; chị K đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

5. Các đương sự được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng anh N vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ