vanban.org

Bản án 90/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng các Điều 51; 56; 58; 81; 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. * Tuyên Xử: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bán án H và T"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng các Điều 51; 56; 58; 81; 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
  • Căn cứ chính? Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HÒN ĐẤT
TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 90/2019/HNGĐ-ST.
Ngày: 14/8/2019.
Về việc: “Xin ly hôn và nuôi con”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT - TỈNH KIÊN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Lê Văn An

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Phạm Hồng Gái

2. Ông Võ Thanh Bình

- Thư ký phiên toà: Bà Đỗ Thị Mộng Trinh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòn Đất tham gia phiên tòa: Không.

Ngày 14 tháng 8 năm 2019 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang xét xử công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 226/2019/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 5 năm 2019 về việc: “Xin ly hôn và nuôi con”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 95/2019/QĐST - HNGĐ ngày 23 tháng 7 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 50/2019/QĐST-HNGĐ ngày 02/8/2019 giữa các đương sự:

1/ Nguyên đơn: Anh Bùi Duy H, sinh năm 1989 (có mặt).

Địa chỉ: ấp Phú Xuân, xã TH, huyện PH, tỉnh HG.

2/ Bị đơn: Chị Phan Thị T, sinh năm 1986 (vắng mặt).

Địa chỉ: ấp Bình Hòa 1, xã BG, huyện HĐ, tỉnh KG.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo đơn khởi kiện đề ngày 22/5/2019 và trong quá trình xét xử, nguyên đơn anh Bùi Duy H trình bày như sau:

- Về hôn nhân: Anh Bùi Duy H và chị Phan Thị T đi đến hôn nhân là do mai mối, anh chị được gia đình hai bên tổ chức đám cưới vào năm 2009. Sau đó anh chị có làm thủ tục đăng ký kết hôn và được UBND xã Thạnh Hòa, huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 19/11/2009. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc nH sau đó được khoảng 02 năm thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung. Do anh H và chị T không thể hàn gắn được nên chị T bỏ về nhà mẹ ruột sống và ly thân với anh H hơn 09 năm nay. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không đạt được mục đích nên anh H yêu cầu được ly hôn với chị Phan Thị T.

- Về con chung: Quá trình chung sống giữa anh H và chị T có 01 người con chung là tên Bùi Thị Bích Trâm, sinh ngày 07/6/2010. Từ khi chị T bỏ đi cho đến nay thì anh H là người trực tiếp chăm sóc con chung, ly hôn anh H yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu chị T phải cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn chị Phan Thị T: trong quá trình giải quyết vụ án tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ nH chị T vẫn vắng mặt không lý do và cũng không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên không có lời khai trong hồ sơ vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Về thẩm quyền: Đối với tranh chấp về hôn nhân gia đình giữa anh Bùi Duy H và chị Phan Thị T. Căn cứ vào Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì vụ án này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang.

Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã tống đạt văn bản tố tụng hợp lệ cho bị đơn chị Phan Thị T nH bị đơn vẫn vắng mặt đến lần thứ hai. Do đó Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung vụ án: Anh Bùi Duy H và chị Phan Thị T là vợ chồng hợp pháp do đã được UBND xã Thạnh Hòa, huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn vào ngày 19/11/2009. Quá trình chung sống giữa anh H và chị T phát sinh nhiều mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm sống và không hòa hợp được với nhau. Nay anh H nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không đạt được mục đích, đời sống chung không thể kéo dài nên yêu cầu được ly hôn với chị T.

Hội đồng xét xử xét thấy: Việc anh H yêu cầu được ly hôn với chị T là có cơ sở để được chấp nhận. Bởi lẽ, theo lời trình bày của anh H, anh và chị T chung sống với nhau nH thường xuyên cãi vã, bất đồng quan điểm sống dẫn đến việc anh chị đã sống ly thân với nhau hơn 09 năm nay, hiện tại anh chị không còn liên lạc, không còn quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau nữa. Chứng tỏ mối quan hệ hôn nhân giữa anh H và chị T đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó yêu cầu xin ly hôn của anh Bùi Duy H là có cơ sở để được chấp nhận.

Về con chung: Quá trình chung sống anh H và chị T có 01 người con chung tên Bùi Thị Bích Trâm, sinh ngày 07/6/2010. Ly hôn anh H yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung đến tuổi trưởng thành và không yêu cầu chị T phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Hội đồng xét xử nhận thấy việc giao con chung cho anh H tiếp tục nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành là phù hợp. Bởi lẽ, từ khi chị T bỏ đi cho đến nay thì anh H là người trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cháu Trâm, chị T không liên lạc hoặc quan tâm, chăm sóc gì đối với con chung, việc tiếp tục giao cháu Trâm cho anh H nuôi dưỡng giúp cháu Trâm không bị thay đổi về mặt tâm lý và môi trường sống. Mặt khác việc này cũng phù hợp với nguyện vọng của cháu Trâm. Do đó việc giao con chung cho anh H tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp với quy định của pháp luật và phù hợp với thực tế.

Đối với nghĩa vụ cấp dưỡng: Do anh Bùi Duy H không yêu cầu nên Hội đồng xét xử miễn xét.

Về tài sản chung: Anh H trình bày không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết nên HĐXX miễn xét.

Về nợ chung: Anh H trình bày không có nợ ai hoặc cho ai vay nợ, không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết nên HĐXX miễn xét.

Về án phí hôn nhân và gia đình: Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội thì Anh Bùi Duy H phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

- Áp dụng các Điều 51; 56; 58; 81; 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

- Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

* Tuyên Xử:

1/. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Anh Bùi Duy H được ly hôn với chị Phan Thị T.

2/. Về con chung : Giao cháu Bùi Thị Bích Trâm, sinh ngày 07/6/2010 cho anh Bùi Duy H tiếp tục nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành. Chị Phan Thị T không phải cấp dưỡng nuôi con chung do anh Bùi Duy H không yêu cầu.

Chị Phan Thị T có quyền được thăm nom , chăm sóc, giáo dục con chung không ai được quyền ngăn cản theo quy định của pháp luật.

Bảo lưu quyền khởi kiện xin thay đổi người trực tiếp nuôi con chung khi một trong các bên có yêu cầu.

3/. Về tài sản chung và nợ chung : Anh H trình bày không có tài sản chung và không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết nên miễn xét.

4/. Về án phi hôn nhân gia đình sơ thẩm : Anh Bùi Duy H phải chịu án phí hôn

́ nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng. Đối trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0002390 ngày 22/5/2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang. Theo đó anh Bùi Duy H không phải nô ̣p thêm.

5/. Quyền kháng cáo: Báo cho các đương sự biết có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự đã được sửa đổi bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự đã được sửa đổi bổ sung năm 2014.

Cỡ chữ