- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Phi L - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác (điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Phạm Phi L phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 41/2017/QH14 Về việc thi hành Bộ luật Hình sự…; Điều 104 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 90/2018/HS-PT Ngày: 29/11/2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Nguyên Tùng;
Các thẩm phán: Ông Lương Quang và ông Nguyễn Việt Hùng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Quang - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Minh Tâm - Kiểm sát viên Trung cấp.
Ngày 29 tháng 11 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên, mở phiên tòa công khai để xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 89/HSPT/2018 ngày 09 tháng 11 năm 2018 đối với bị cáo Phạm Phi L, do có kháng cáo của bị cáo Phạm Phi L và người bị hại Lê Hồng T đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 16/2018/HSST ngày 06 tháng 9 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện T.
* Bị cáo có kháng cáo: Phạm Phi L (tên gọi khác: Củi), sinh năm 1997; tại tỉnh Phú Yên. Nơi cư trú: Thôn P, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm H, sinh năm 1968 và bà Lê Thị L, sinh năm 1972; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo tại ngoại; có mặt.
* Người bị hại: Anh Lê Hồng T, sinh năm 1986. Nơi cư trú: Thôn Xuân Lộc, xã An Xuân, huyện T, tỉnh Phú Yên; có mặt.
Ngoài ra, vụ án còn có bị cáo Nguyễn Ngọc Q, Tống Văn V nhưng không có kháng cáo và không bị kháng nghị.
1
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 08/12/2017, Phạm Phi L và nhóm bạn có mâu thuẫn đánh nhau với nhóm của Lê Hồng T, trong lúc xô xát, Lanh dùng bình xịt hơi cay xịt vào nhóm của T. Sau đó, L và nhóm bạn bàn bạc kéo lên Đèo Thị chờ nhóm của T về để chặn đánh. Tống Văn V đang chơi gần đó nghe nhóm L bàn bạc, cũng tham gia, chờ khoảng 10 phút nhưng không thấy nhóm của T, nên nhóm của L quay về, L gọi điện nhờ Nguyễn Ngọc Q đến giúp Lanh đánh nhóm của T. Q đang đi với bạn là Trần Quốc H, nên nhờ H chở về nhà lấy cây gậy bóng chày để đánh nhau, đến nơi thấy Công an thị trấn Chí Thạnh, Q yêu cầu nhóm L giải tán. Sau đó, H chở Q về thì bị nhóm của T ném đá, Q và H bỏ xe máy chạy bộ ngược kêu nhóm của L quay ra đánh nhóm của T. Lúc này, Q chạy trước cầm cây gậy bằng kim loại, L và V chạy theo sau, khi đuổi kịp, Q dùng gậy kim loại đánh 02 cái vào lưng T, T chạy đến quán bún của chị Nguyễn Thị Bích T thì bị Q đánh tiếp 01 gậy vào vai trái làm Tiên ngã xuống đất. L chạy đến dùng tay, chân và cái xoong nấu nước bún của chị Th đánh vào vùng đầu, người T nhiều cái, T đứng dậy thì bị V dùng 01 cục đá ném trúng vào đầu gây thương tích, tỷ lệ tổn thương toàn bộ của Tiên là 12%.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 16/2018/HSST ngày 06 tháng 9 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện T đã tuyên bị cáo Phạm Phi L phạm tội “Cố ý gây thương tích”; áp dụng khoản 2 Điều 104 Bộ luật Hình sự năm 1999; khoản 3 Điều 7; điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015; phạt: Phạm Phi L 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên phần bồi thường dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 10/9/2018, bị cáo Phạm Phi L kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và hưởng án treo.
Ngày 10/9/2018, bị hại Lê Hồng T kháng cáo xin cho bị cáo Phạm Phi L được giảm nhẹ hình phạt và hưởng án treo.
Tại phiên tòa, bị cáo Phạm Phi L vẫn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản án sơ thẩm đã tuyên; bị cáo và người bị hại giữ nguyên yêu cầu kháng cáo
Kiểm sát viên phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội
2
đồng xét xử căn cứ Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Không chấp nhận kháng cáo - Giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
Lời khai nhận tội của bị cáo Phạm Phi L tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm đều phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của các đồng phạm, người bị hại, người làm chứng và các tài liệu là chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, nên có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 21 giờ 40 phút ngày 08/12/2017, tại khu phố Chí Thạnh, thị trấn Chí Thạnh, huyện T, tỉnh Phú Yên. Nguyễn Ngọc Q dùng cây gậy bằng kim loại, xoong nấu nước bún và viên đá để gây án là phạm tội thuộc trường hợp dùng hung khí nguy hiểm, nên cấp sơ thẩm đã truy tố, xét xử các bị cáo, trong đó có bị cáo Phạm Phi L về tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản 2 Điều 104 Bộ luật Hình sự năm 1999; trên cơ sở áp dụng nguyên tắc có lợi theo hướng dẫn tại Nghị quyết số: 41/2017/QH14 ngày 20 tháng 6 năm 2017 của Quốc hội; khoản 3 Điều 7; điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng tội.
Hành vi của bị cáo không chỉ trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe người bị hại trái pháp luật, mà còn gây mất trật tự trị an - xã hội ở địa phương, nên cần xử lý nghiêm. Mặc dù, sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo cung cấp tài liệu chứng minh, bị cáo có cha Phạm Hải đã từng tham gia nghĩa vụ quân sự, phục vụ ở chiến trường K; bản thân bị cáo cũng là quân nhân xuất ngũ, là tình tiết mới phát sinh tại cấp phúc thẩm. Nhưng khi lượng hình, án sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất của vụ án, phân hóa vai trò phạm tội và áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng, để phạt bị cáo 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù, đồng thời không cho bị cáo hưởng án treo là thỏa đáng, đáp ứng được yêu cầu phòng chống tội phạm tại địa phương. Do đó, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo và kháng cáo của người bị hại, mà chấp nhận ý kiến của Kiểm sát viên giữ nguyên án sơ thẩm về hình phạt để có đủ thời gian cải tạo, giáo dục bị cáo.
Bị cáo Phạm Phi L kháng cáo không được chấp nhận phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định tại Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
3
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật nên không xem xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Phạm Phi L phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Căn cứ Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Áp dụng khoản 2 Điều 104 Bộ luật Hình sự năm 1999; Nghị quyết số: 41/2017/QH14 ngày 20 tháng 6 năm 2017 của Quốc hội; khoản 3 Điều 7; điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015;
Không chấp nhận khá ng cá o của bị cáo Phạm Phi L và kháng cáo của người bị hại Lê Hồng T - Giữ nguyên bản án sơ thẩm về hình phạt.
Phạt: Bị cáo Phạm Phi L - 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án.
Áp dụng Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Phạm Phi L phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND cấp cao tại Đà Nẵng; - VKSND tỉnh Phú Yên; - Cơ quan THAHS S; - Chi cục THADS S; - CQCSĐT S - VKSND S; - TAND S; - Bị cáo; - Lưu. 4 | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Võ Nguyên Tùng |