vanban.org

Bản án 90/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

39; khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. 1/ Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? 39; khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 90/2018/HNGĐ-ST
Ngày: 18/01/2018
V/v: Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Lê Tứ Nhị

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Kim Thủy

Bà Lê Thị Thanh Hồng

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Tấn Vinh – Thư ký Toà án Gò Vấp

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp tham gia phiên tòa:

Ông Nguyễn Bá Nghĩa - Kiểm sát viên

Ngày 18 tháng 01 năm 2018 tại trụ sở Toà án nhân dân quận Gò Vấp xét xử

sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 1255/2017/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 10 năm 2017 về việc ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 33/2017/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 12 năm 2017 (và Quyết định hoãn phiên tòa số 44/2017/QĐST – HNGĐ ngày 29/12/2017) giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Phạm Thị Đ, sinh năm 1958. Địa chỉ: phường 17, quận Gò

Vấp, TPHCM.

Bị đơn: Ông Trần Văn Đ, sinh năm 1952. Nơi cư trú cuối cùng: phường 17,

quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.

(Bà Đ có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; Ông Đ bị tuyên bố mất tích theo Quyết

định số 171/2017/QĐDS-ST ngày 19/4/2017 của Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, TPHCM).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai của nguyên đơn là bà Phạm Thị Đ và tài liệu

chứng cứ trong hồ sơ thể hiện:

Bà Phạm Thị Đ và ông Trần Văn Đ kết hôn năm 2012, có tổ chức lễ cưới và

có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 096, quyển số 1/2012 do Ủy ban nhân dân phường 17, quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 02/5/2012.

Sau khi kết hôn ông bà chung sống tại địa chỉ phường 17, quận Gò Vấp, Thành

phố Hồ Chí Minh. Ông bà chung sống đến tháng 01/2014 thì ông Đ tự ý bỏ nhà đi cho đến nay không về. Gia đình tìm kiếm nhiều nơi không có kết quả.

Bà Đ đã làm thủ tục thông báo tìm kiếm người vắng mặt là ông Trần Văn Đ,

sinh năm 1952 tại nơi cư trú cuối cùng là địa chỉ phường 17, quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh trên các phương tiện thông tin đại chúng nhưng không có kết quả.

Bà Đ cũng đã yêu cầu Tòa án tuyên bố một người mất tích là ông Trần Văn

Đ, sinh năm 1952 tại nơi cư trú cuối cùng là địa chỉ phường 17, quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh theo quyết định số 171/2017/QĐDS-ST ngày 19/4/2017 của Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.

Thời gian sống chung ông bà không có con chung, không có tài sản chung.

Thời gian tìm kiếm đã lâu, nên bà Đ yêu cầu ly hôn ông Đ để ổn định cuộc

sống của mình.

Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn là bà Phạm Thị Đ có đơn đề nghị xét xử

vắng mặt do tình trạng sức khỏe yếu. Bà Đ vẫn giữ nguyên yêu cầu như nêu trên.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát phát biểu về việc tuân theo pháp luật của

Thẩm phán và Hội đồng xét xử:

- Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Đây là tranh chấp ly hôn, bị

đơn có nơi cư trú cuối cùng tại quận Gò Vấp nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh. Từ khi thụ lý đến thời điểm xét xử Thẩm phán và Hội đồng xét xử chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về người tham gia tố tụng: Việc thu thập chứng cứ, lấy lời khai của đương

sự, việc cấp tống đạt các giấy tờ cho Viện kiểm sát và những người tham gia tố tụng đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về nội dung vụ án: Căn cứ tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và diễn

biến tại phiên tòa, Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp nhận thấy có cơ sở để chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.

Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên

toà, Tòa án nhận định:

. Về tố tụng:

1.1. Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền của Tòa án:

Ông Trần Văn Đ có nơi cư trú tại cuối cùng tại địa chỉ phường 17, quận Gò

Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh. Nên bà Phạm Thị Đ gửi đơn ly hôn đến Toà án nhân dân quận Gò Vấp là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Bà Đ và ông Đ kết hôn và chung sống năm 2012; Cả hai có đăng ký kết hôn

theo Giấy chứng nhận kết hôn số 096, quyển số 1/2012 do Ủy ban nhân dân phường 17, quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 02/5/2012. Nay bà Đ yêu cầu ly hôn, xác định đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp được điều chỉnh bởi Luật hôn nhân và gia đình.

1.2. Về người tham gia tố tụng:

Nguyên đơn là bà Phạm Thị Đ có đơn đề nghị xét xử vắng mặt được quy định

tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Bị đơn là ông Trần Văn Đ bị Tòa án tuyên bố mất tích theo Quyết định số

171/2017/QĐDS-ST ngày 19/4/2017 của Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bà Đ khởi kiện yêu cầu ly hôn đối với ông Đ thuộc trường hợp ly hôn với

người bị tòa án tuyên bố mất tích quy định tại khoản 2 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình; khoản 2 Điều 68 của Bộ luật dân sự.

Xét yêu cầu của các đương sự:

Tại đơn khởi kiện và bản tự khai, nguyên đơn cho biết thời gian chung sống

bị đơn thường nhậu nhẹt say xỉn nên cả hai thường gây gỗ, cải vã nhau.

Về con chung và tài sản chung: Nguyên đơn khai không có, không yêu cầu

nên Tòa án không xét.

Ông Đ bị Tòa án tuyên bố mất tích nên vụ án không thể tiến hành hòa giải

được theo quy định tại khoản 3 Điều 207 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Khoản 2 Điều 68 của Bộ luật dân sự quy định: “Trường hợp vợ hoặc chồng

của người bị tuyên bố mất tích xin ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình”; Khoản 2 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình quy định: “Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn”. Vậy yêu cầu của nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu án phí sơ thẩm theo quy

định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQHQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp tại phiên tòa

là phù hợp với phần nhận định của Hội đồng xét xử.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều

39; khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ khoản 2 Điều 68 của Bộ luật dân sự năm 2015;

Căn cứ vào khoản 2 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ Điều 6, 7, 9 và 30 Luật thi hành án dân sự;

Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQHQH14 ngày

30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1/ Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị Đ được ly hôn ông Trần Văn Đ (Giấy

chứng nhận kết hôn số 096, quyển số 1/2012 do Ủy ban nhân dân phường 17, quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 02/5/2012 không còn giá trị).

Về con chung và tài sản chung: Không xét.

2/ Về án phí: Án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) do

bà Phạm Thị Đ chịu, nhưng được cấn trừ vào số tiền 300.000 đồng bà Đ đã tạm nộp án phí theo biên lai thu số AA/2017/0027491 ngày 02/10/2017 của Chi cục Thi hành án quận Gò Vấp. Bà Đ đã nộp đủ án phí.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật

Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

3/ Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời

hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ