vanban.org

Bản án 90/2017/HSST — Hình sự

TAND huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên Tuyên án 15/09/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tội danh: Tuyên bố bị cáo Cà Văn T phạm tội: Mua bán trái phép chất ma túy.

Hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46 BLHS, xử phạt bị cáo Cà Văn T 42 (bốn mươi hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 30/5/2017. Vật chứng: Áp dụng Điều 41 BLHS, Điều 76 BLTTHS tuyên tịch thu để hủy: 01 gói hê rô in được niêm phong có trọng lượng 2,45 gam… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Cà Văn T phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm…"
  • Tòa quyết gì? Tội danh: Tuyên bố bị cáo Cà Văn T phạm tội: Mua bán trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? Điều 194 Bộ luật Hình sự; Điều 41 Bộ luật Hình sự; Điều 46 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TUẦN GIÁO
TỈNH ĐIỆN BIÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 90/2017/HSST
Ngày: 15/9/2017.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUẦN GIÁO - TỈNH ĐIỆN BIÊN

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thương.

- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Mùa A Tu và bà Nguyễn Thị Huyền;

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Hoàng Phương Thảo, cán bộ Tòa án nhân dân huyện Tuần Giáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Mạnh, Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 9 năm 2017, tại trụ sở TAND huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 96/2017/HSST ngày 25 tháng 8 năm 2017 đối với bị cáo:

Họ và tên: Cà Văn T; sinh năm 1986, tại xã Nà T, huyện G, tỉnh Đ;Nơi ĐKHKTT: Bản H, xã Q, huyện T, tỉnh Đ;chỗ ở hiện nay: bản C, xã Q, huyện T, tỉnh Đ.Dân tộc: Thái; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không;nghề nghiệp: Không; trình độ văn hoá: Lớp 2;con ông: Cà Văn P, sinh năm 1944; con bà: Lò Thị L; sinh năm 1946;Bị cáo chưa có vợ, con; tiền sự: Không; tiền án: Không; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/5/2017, có mặt.

+ Người có nghĩa vụ liên quan: Lò Thị N; trú tại: Bản V 3, xã C, huyện T, tỉnh Đ. Vắng mặt.

NHẬN THẤY:

Bị cáo Cà Văn T bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Hồi 9 giờ 30 phút ngày 30/5/2017, tổ công tác Công an huyện Tuần Giáo làm nhiệm vụ tại khu vực bản C, xã Q, huyện T đã phát hiện Cà Văn T đang tàng trữ trái phép chất ma túy, thu giữ 07 gói hêrôin và 01 điện thoại di động, 01 cân điện tử và 2.055.000đ. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng dẫn giải Cà Văn T về cơ quan điều tra xử lý.

Tại cơ quan điều tra, Cà Văn T khai nhận: Vào khoảng 18 giờ 30 ngày 29/5/2017, Cà Văn T đi bộ ra đường Quốc lộ 6 xin đi nhờ xe máy của một người đàn ông không quen biết đến khu vực xã C huyện T để tìm mua hêrôin. Khi đến khu vực bản V, xã C, T xuống xe. Đi được một đoạn thì gặp một người đàn ông, T hỏi người đó có chỗ nào bán hêrôin không. Người đó chỉ vào một ngôi nhà ven đường và nói nhà Lò Thị N có bán. T vào nhà gặp Lò Thị N. Hai bên thỏa thuận việc mua bán hêrôin và T đã mua của Lò Thị N một gói hêrôin với giá 1.500.000đ.

Sau khi mua được hêrôin, Cà Văn T mang về chia nhỏ số hêrôin ra làm 07 gói cất giấu nhằm mục đích sử dụng và bán lẻ thu lời. Nhưng chưa kịp bán cho ai thì bị phát hiện và thu giữ.

Ngày 30/5/2017, cơ quan điều tra đã mở niêm phong và xác định trọng lượng. Số hêrôin thu được của Cà Văn T được xác định trọng lượng là 2,5 gam. Cơ quan điều tra đã trích mẫu giám định và trưng cầu giám định đối với số hêrôin thu được của Cà Văn T.

Tại bản Kết luận giám định số: 489/GĐ-PC54 ngày 18/6/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Đ đã kết luận: Mẫu vật gửi giám định được trích ra từ vật chứng thu giữ của Cà Văn T là chất ma túy, loại: Hêrôin; vật chứng thu giữ của Cà Văn Thương có trọng lượng 2,5 gam.

Tại bản Cáo trạng số: 72/QĐ-VKS-HS ngày 25/8/2017, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo đã truy tố bị cáo Cà Văn T về tội: Mua bán trái phép chất ma túy theo khoản 1 Điều 194 BLHS. Tại phiên tòa, vị đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên nội dung truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 194, điểm p khoản 1 Điều 46 BLHS; xử phạt bị cáo Cà Văn T từ 36 tháng đến 42 tháng tù. Không phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo vì bị cáo không có khả năng về kinh tế. Áp dụng Điều 99 BLTTHS; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH, miễn án phí HSST cho bị cáo vì bị cáo sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tê đặc biệt khó khăn. Áp dụng Điều 41 BLHS, Điều 76 BLTTHS, trả lại cho bị cáo số tiền 2.055.000đ; 01 cân điện tử, 01 điện thoại di động; tuyên hủy 01 gói hêrôin được niêm phong.

Căn cứ vào các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.

XÉT THẤY:

Ngày 30/5/2017, cơ quan điều tra khám xét phát hiện thu giữ của Cà Văn T 07 gói hêrôin có trọng lượng 2,5 gam. Bị cáo Cà Văn T khai nhận số hêrôin này là của bị cáo mua về để sử dụng và bán lẻ. Chưa kịp bán thì bị phát hiện. Tại phiên tòa bị cáo khai nhận tội như đã khai tại giai đoạn điều tra. Bị cáo khai thêm do bản thân có bệnh nên bị cáo mua để khi đau, bị cáo mang ra dùng để giảm đau. Ngoài ra, khi có ai hỏi mua bị cáo sẽ bán.

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản mở niêm phong xác định trọng lượng vật chứng; bản kết luận giám định; biên bản hỏi cung bị can.

Hành vi mua hêrôin về để bán của Cà Văn T đã phạm tội: Mua bán trái phép chất ma túy. Tội phạm được qui định tại khoản 1 Điều 194 BLHS.

Bởi vậy, VKSND huyện Tuần Giáo truy tố bị cáo theo tội danh và điều khoản nêu trên là chính xác.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm sự độc quyền về quản lý chất ma túy của nhà nước, tiếp tay cho tệ nạn nghiện ma túy đang là vấn đề bức xúc của xã hội, gây mất trật tự an toàn khu vực, ảnh hưởng đến sự phát triển giống nòi của dân tộc nên cần thiết phải xử lý nghiêm minh. Xét tình tiết tăng nặng giảm nhẹ và nhân thân bị cáo thấy: Tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ TNHS theo điểm p khoản 1 Điều 46 BLHS.

Tháng 5/2006, bị cáo Cà Văn T bị TAND huyện Tuần Giáo xử phạt 60 tháng tù về tội Vận chuyển trái phép chất ma túy. Đến tháng 4/2010, được đặc xá về địa phương sinh sống. Ngày 30/5/2017 tiếp tục phạm tội. Mặc dù đã đủ thời gian được coi là xóa án tích nhưng điều đó thể hiện bị cáo có nhân thân xấu. Bản thân đã một lần được tiếp thu sự cải tạo, giáo dục của nhà nước và được hưởng sự khoan hồng của pháp luật nhưng không lấy đó làm bài học rèn luyện bản thân. Khi được đặc xá về địa phương lại tiếp tục phạm tội. Điều đó chứng tỏ sự ngoan cố, coi thường pháp luật của bị cáo. Bởi vậy, cần có mức hình phạt nghiêm khắc hơn để cải tạo, giáo dục bị cáo thành người có ích cho gia đình và xã hội.

Bị cáo không có điều kiện về kinh tế nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền.

Đối với Lò Thị N bị cáo khai đã bán hêrôin cho bị cáo, Lò Thị N không thừa nhận. Ngoài lời khai trên không có chứng cứ nào khác chứng minh nên cơ quan điều tra không có cơ sở để xử lý.

Vật chứng vụ án là 01 gói hêrôin được niêm phong, cần áp dụng Điều 41 BLHS và Điều 76 BLTTHS tuyên tịch thu để hủy. Đối với chiếc điện thoại di động và số tiền 2.055.000đ và 01 chiếc cân điện tử là của bị cáo không liên quan đến việc phạm tội cần áp dụng Điều 41 BLHS trả lại cho bị cáo.

Bị cáo sinh sống ở xã có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn nên được miễn án phí HSST theo qui định tại Nghị định số 326/2016/UBTVQH.

Đề nghị của kiểm sát viên về mức hình phạt và hướng xử lý các vấn đề khác của vụ án là phù hợp, cần được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tội danh: Tuyên bố bị cáo Cà Văn T phạm tội: Mua bán trái phép chất ma túy.

2. Hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46 BLHS, xử phạt bị cáo Cà Văn T 42 (bốn mươi hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 30/5/2017.

3. Vật chứng: Áp dụng Điều 41 BLHS, Điều 76 BLTTHS tuyên tịch thu để hủy: 01 gói hê rô in được niêm phong có trọng lượng 2,45 gam. Trả lại cho bị cáo 01 chiếc cân điện tử nhãn hiệu POCKETSCALE, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel. Đặc điểm vật chứng được ghi theo phiếu nhập kho vật chứng số PNKVC 83 ngày 05/9/2017 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tuần Giáo. Trả lại cho bị cáo 2.055.000đ (hai triệu không trăm năm mươi lăm nghìn đồng) theo Ủy nhiệm chi số: 02 ngày 30/8/2017.

4. Án phí: Áp dụng Điều 99 BLTTHS; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của UBTVQH qui định về mức thu, nộp, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, miễn án phí HSST cho bị cáo.

Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (15/9/2017).

Cỡ chữ