vanban.org

Bản án 899/2025/DS-PT — Tranh chấp hợp đồng ủy quyền

TAND TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 13/08/2025 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 13/08/2025 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

C n cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân s ; không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn bà Nguy n Thị H1; không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Trần Thanh S, giữ nguyên các quyết định của bản án sơ thẩm như sau:

C n cứ vào các Điều 117 Điều 119 Điều 122 Điều 123 Điều 124 Điều 129 Điều 131 Điều 463 Điều 466 Điều 468 Điều 500 Điều 501 Điều 503 của Bộ luật D n s n m 2015Điều 188 Luật Đất đai 2013; Điều 26 Điều 35 Điều 39 Điều 227 Điều 228 Điều 244 Điều 266 Điều 271 Điều 273 Điều 296 Bộ luật Tố tụng d n s ; Điề… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng ủy quyền — án dân sự — "Nguyễn Huy T - Nguyễn Thị H"
  • Tòa quyết gì? C n cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân s ; không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn bà Nguy n Thị H1; không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Trần Thanh S, giữ nguyên các quyết định của bản án sơ thẩm như sau:
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 899/2025/DS-PT
Ngày: 13-8-2025
V/v tranh chấp hợp đồng ủy quyền;
hợp đồng vay tài sản và hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Cao Minh Vỹ

Các Thẩm phán: Bà Đào Thị Huệ

Bà Bùi Thị Thương

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguy n Thị Hà Vy – Thư T a án nh n d n Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Thái Quốc Bảo - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 06 và 13 tháng 8 n m 2025 t i trụ s T a án nh n d n Thành phố Hồ Chí Minh (cơ s 1) xét xử phúc thẩm công hai vụ án thụ l số 45/2025/TLPT-DS ngày 27 tháng 02 n m 2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng ủy quyền, hợp đồng vay tài sản và hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”.

Do Bản án d n s sơ thẩm số 235/2024/DS-ST ngày 30 tháng 9 n m 2024 của T a án nh n d n thành phố V tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (nay là T a án nh n d n hu v c X – Thành phố Hồ Chí Minh) bị háng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 97/QĐ-PT ngày 15 tháng 4 n m 2025 Quyết định hoãn phiên t a số 104/2025/QĐ-PT ngày 06 tháng 5 n m 2025 Quyết định t m ngừng phiên t a số 45/2025/QĐ-PT ngày 06 tháng 6 n m 2025 Thông báo về việc thay đổi thời gian xét xử số 140/2025/TB-TA ngày 28 tháng 6 n m 2025 Thông báo về thời gian địa điểm m l i phiên t a số 10436/2025/TB-TA ngày 10 tháng 7 n m 2025 giữa các đương s :

- Nguyên đơn: Ông Nguy n Huy T sinh n m 1958.

Địa chỉ: H Đường C Phường A thành phố V tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (nay là phường P Thành phố Hồ Chí Minh) (có mặt).

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Bà Trịnh Thị H sinh n m 1973.

Địa chỉ: B L Phường H thành phố V tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (nay là phường T Thành phố Hồ Chí Minh) theo Giấy ủy quyền ngày 03-11-2023 (có mặt).

- Bị đơn:

1. Bà Nguy n Thị H1 sinh n m 1979.

Địa chỉ: Ấp N xã H thành phố B tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (nay là phường T Thành phố Hồ Chí Minh).

Địa chỉ hiện nay: 39 M, Springvale V, Australia (vắng mặt).

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguy n Anh V sinh n m 1994.

Địa chỉ: P, Lô N, nhà F, Chung cư B đường H phường A thành phố T (nay là phường A) Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy ủy quyền ngày 03-10-2024 (có mặt).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà H1: Luật sư Lê Bá T1 – Đoàn Luật sư Thành phố H (có mặt).

2. Bà Nguy n Thị Thúy N sinh n m 1984.

Địa chỉ: E N Phường P thành phố B tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (nay là phường B Thành phố Hồ Chí Minh) (vắng mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Ph m Thị K sinh n m 1959.

Địa chỉ: H Đường C Phường A thành phố V tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (nay là phường P Thành phố Hồ Chí Minh) (vắng mặt).

2. Ông Lương Minh T2 sinh n m 1986.

Địa chỉ: 1 C Phường D Quận T (nay là phường T) Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện hợp pháp: Ông Hồ Đặng L sinh n m 1992.

Địa chỉ: 1 C Phường D Quận T (nay là phường T) Thành phố Hồ Chí Minh, theo Giấy ủy quyền ngày 29-01-2024 (có mặt).

3. Ông Trần Thanh S sinh n m 1985.

Địa chỉ: A N phường P thành phố B tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (nay là phường B Thành phố Hồ Chí Minh) (vắng mặt).

Người đại diện hợp pháp: Ông Trần Anh T3 sinh n m 1999.

Địa chỉ: A N Phường P thành phố B tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (nay là phường B Thành phố Hồ Chí Minh) theo Giấy ủy quyền ngày 23-4-2024 (có mặt).

4. Ông Nguy n Hữu T4 sinh n m 1962.

Địa chỉ: Thôn A xã L thành phố V tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (nay là xã L Thành phố Hồ Chí Minh).

5. Ông Lê Hồng P sinh n m 1970.

Địa chỉ: Thôn E, xã L thành phố V tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (nay là xã L Thành phố Hồ Chí Minh) (vắng mặt có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

- Người kháng cáo:

1. Bà Nguy n Thị H1 – Bị đơn.

2. Ông Trần Thanh S - Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Nguyên đơn ông Nguyễn Huy T và người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày:

Bà Nguy n Thị Thúy N là cháu ruột của bà Ph m Thị K (vợ ông Nguy n Huy T). Vào tháng 12-2021, bà N có nói với vợ chồng ông T vì đợt dịch Covid éo dài nên công ty du lịch của N gặp hó h n. Sau dịch Covid công ty của N trúng thầu đưa học sinh đi du lịch Đà L t cả 03 trường mỗi trường gần 500 học sinh và giáo viên nên cần có số tiền đặt cọc n uống và nghỉ hách s n tương đối lớn nên N cần vay tiền. N nói với vợ chồng ông T rằng nhà ba mẹ N có đất của bà nội để l i nhưng chưa làm sổ đỏ được nên nhờ dì dượng (vợ chồng ông T) cho N mượn t m sổ ruộng muối (diện tích 7.422 1m2) để vay số tiền 500.000.000 đồng của H1 để có tiền đặt cọc hách s n ngoài Đ. Vì thương cháu muốn t o cơ hội cho cháu làm n nên vợ chồng ông T đã đồng cho N mượn sổ đỏ đất để đi vay tiền.

Ngày 17-12-2021 vợ chồng ông T lập Hợp đồng ủy quyền t i V n ph ng C3 ủy quyền cho Nguy n Thị H1 đối với diện tích đất 7.422 1m2 thuộc thửa số 167 tờ bản đồ số 18 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AN838091 do Ủy ban nh n d n thành phố V cấp ngày 23-3-2009 đứng tên ông Nguy n Huy T, bà Ph m Thị K.

Ngày 26-02-2022, bà H1 sang L báo với ông T là N đã mượn bà H1 số tiền lên đến 1.200.000.000 đồng và yêu cầu ông T trả tiền nếu hông trả tiền thì mất thửa đất 7.422 1m2. Do lo sợ mất đất nên ông T đã báo cho bố N để cùng giải quyết. Chú ruột N là Nguy n Thanh L1 (sinh n m 1970 ngụ t i thôn E, xã L, thành phố V) có đưa cho ông T 300.000.000 đồng vợ chồng ông T góp thêm 100.000.000 đồng tổng cộng thành 400.000.000 đồng để trả cho H1 t i nhà ba mẹ Nga. Các bên có lập Biên bản làm việc có s tham gia của ông T, N, H1 và bố N là ông Nguy n Hữu T4 tất cả thống nhất là: N có nợ H1 số tiền 1.200.000.000 đồng; H1 đã nhận l i 400.000.000 đồng; hoản tiền c n l i 800.000.000 đồng ông T và gia đình N sẽ trả cho H1 trước 11-3-2022.

Vì sợ đến h n mà hông có tiền trả cho bà H1 sẽ mất giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên ông T có đi vay của ông Nguy n V n T5 số tiền 800.000.000 đồng để trả cho bà H1. Ngày 08-3-2022, ông T5 chuyển hoản số tiền 800.000.000 đồng trả cho bà H1 và yêu cầu ông T Giấy biên nhận tiền mặc dù th c chất ông T hông nhận tiền. Cùng ngày 08-3-2022, bà H1 đã V n bản hủy bỏ hợp đồng ủy quyền đối với diện tích đất 7.422 1m2; và ngay sau đó cùng ngày 08-3-2022 vợ chồng ông T Hợp đồng ủy quyền diện tích đất 7.422,1m2 cho ông Nguy n V n T5 t i V n ph ng C3.

Sau đó bà H1 nói rằng H1 sẽ chuyển tiền 800.000.000 đồng cho ông T5 và vợ chồng ông sẽ làm ủy quyền l i diện tích đất 7.422 1m2 cho bà H1 hi nào trả cho bà H1 800.000.000 đồng thì bà H1 sẽ trả l i giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Do đó ngày 22-6-2022 vợ chồng ông T làm thủ tục chấm dứt hợp đồng ủy quyền diện tích đất 7.422 1m2 với ông T5 và hợp đồng ủy quyền cho bà H1 diện tích đất trên t i V n ph ng C3. Sau đó bà H1 có lập Giấy biên nhận với nội dung: “Cô Nguyễn Thị H1 đã cầm sổ muối 7 sào 7 thuộc địa phận xã L tỉnh BR-VT (giấy chứng nhận QSD đất số AN838091 diện tích 7.422,1m2). Với cam kết khi nào ông T có tiền trả cho bà H1, bà H1 có nghĩa vụ hoàn trả sổ đất cho ông bà Nguyễn Huy T”.

Ngoài ra, ngày 27-01-2022, ông T còn cho bà Nguy n Thị Thúy N mượn số tiền 650.000.000 đồng thời gian mượn 02 tháng (tức phải trả ngày 28-3-2022). Tuy nhiên, bà N đã hông th c hiện đúng nghĩa vụ trả tiền theo cam ết. Đến thời điểm hiện nay bà N chưa thanh toán cho ông T một hoản tiền nợ gốc nào và lãi nào. Theo thỏa thuận thì ông T cho bà N vay với mức lãi suất 20%/n m. Để có tiền cho bà N vay thì ông T đã vay của ông T6 số tiền 600.000.000 đồng để đưa cho bà N có giấy mượn tiền lập cùng ngày 27-01-2022 giữa ông T và ông T6. Đối với hoản tiền này ông T đã phải trả cho ông T6 mức lãi suất 1%/tháng trong thời h n vay 2 tháng nếu sau 2 tháng hông trả thì lãi suất phải trả gấp đôi là 2%/tháng.

Trước đó ông T được biết ông T2 đã tặng cho quyền sử dụng đất trên của vợ chồng ông T cho ông Lương V n L2 nên ông T đã làm đơn h i iện và ng n chặn các giao dịch này. Quá trình giải quyết vụ án ông T được biết ngày 14-02-2023, bà H1 có vay của ông Lương Minh T2 số tiền 4.200.000.000 đồng và đã

ết Hợp đồng ủy quyền l i cho ông T2 diện tích đất 7.422 1m2 của vợ chồng ông T. Bà H1 hoàn toàn không thông báo cho ông T biết việc bà H1 đã ủy quyền l i cho ông T2. Ngày 06-11-2023, ông T2 lập Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất 7.422 1 m2 của vợ chồng ông T cho ông Trần Thành S1. Ngay hi biết được các giao dịch trái pháp luật đối với diện tích đất 7.422 1m2, ông T đã h i iện và yêu cầu ng n chặn mọi giao dịch liên quan đến diện tích đất này. Hiện nay diện tích đất 7.422 1m2 thuộc thửa số 167 tờ bản đồ số 18 theo Giấy chứng nhận số AN838091 do Ủy ban nh n d n thành phố V cấp ngày 23-3-2009 vẫn đang đứng tên vợ chồng ông T bà K. C n Giấy chứng nhận số AN838091 ông T giao cho bà H1 thì bà H1 vẫn chưa trả l i cho ông T.

Nay ông T yêu cầu T a án giải quyết các nội dung như sau:

- Tuyên bố Hợp đồng ủy quyền ngày 22-6-2022 t i V n ph ng C3 tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu giữa ông Nguy n Huy T, bà Ph m Thị K với bà Nguy n Thị H1 vô hiệu.

- Tuyên bố Hợp đồng ủy quyền l i ngày 14-02-2023 t i Phòng C4 tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu vô hiệu.

- Tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 06-11-2023 giữa ông Lương Minh T2 và ông Trần Thanh S vô hiệu.

- Tuyên bố các giao dịch thế chấp giữa ông Nguy n Huy T với bà Nguy n Thị H1 liên quan đến thửa đất số 167 tờ bản đồ số 18 xã L thành phố V vô hiệu.

- Buộc bà Nguy n Thị H1 phải trả l i cho ông Nguy n Huy T Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AN 838091 do Ủy ban nh n d n thành phố V cấp ngày 23-3-2009 đứng tên ông Nguy n Huy T, bà Ph m Thị K. T i phiên t a ông T thay đổi yêu cầu buộc bà H1 và ông S liên đới trả l i bản chính giấy chứng nhận cho ông T, bà K.

- Buộc ông Nguy n Hữu T4 và Nguy n Thị Thúy N trả cho vợ chồng ông Nguy n Huy T số tiền 100.000.000 đồng.

- Vợ chồng ông Nguy n Huy T, bà Ph m Thị K1 có trách nhiệm thanh toán l i cho bà Nguy n Thị H1 số tiền 800.000.000 đồng mà vợ chồng ông T đã đứng ra bảo lãnh cho bà Nguy n Thị Thúy N. Đề nghị T a buộc ông Nguy n Hữu T4 và bà Nguy n Thị Thúy N liên đới trả l i cho vợ chồng ông Nguy n Huy T số tiền 800.000.000 đồng.

- Buộc bà Nguy n Thị Thúy N trả cho vợ chồng ông Nguy n Huy T số tiền 650.000.000 đồng và tiền lãi t m tính từ ngày 28-3-2022 đến ngày 18-6-2022 với mức lãi suất 15%/n m là 217.171.232 đồng; tổng cộng cả gốc lẫn lãi t m tính là 867.171.232 đồng. T i phiên t a ông T thay đổi yêu cầu buộc bà N trả tiền lãi với mức lãi suất 20%/n m.

Bị đơn bà Nguyễn Thị H1 và người đại diện hợp pháp trình bày:

Vào n m 2022 vợ chồng ông Nguy n Huy T, bà Ph m Thị K đến vay bà H1 số tiền 800.000.000 đồng theo “Giấy biên nhận” ngày 22-6-2022. Để đảm bảo cho hoản vay trên vợ chồng ông T, bà K đã lập Hợp đồng ủy quyền số công chứng 04439 t i V n ph ng C3 tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Theo hợp đồng ủy quyền nêu trên bà H1 được toàn quyền thay mặt và nh n danh vợ chồng ông T, bà K quyết định mọi quyền của người sử dụng đất đối với thửa đất số 167 tờ bản đồ số 18 xã L thành phố V tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AN 838091 do Ủy ban nh n d n thành phố V cấp ngày 23-3-2009.

Sau đó bà Nguy n Thị Thúy N là cháu của ông T có hỏi vay bà H1 tổng số tiền 8.350.000.000 đồng cụ thể như sau:

Đợt 1: 600.000.000 đồng – Ngày 19-5-2022;

Đợt 2: 300.000.000 đồng – Ngày 30-52022;

Đợt 3: 500.000.000 đồng – Ngày 21-6-2022;

Đợt 4: 900.000.000 đồng – Ngày 22-6-2022;

Đợt 5: 600.000.000 đồng – Ngày 23-6-2022;

Đợt 6: 1.000.000.000 đồng – Ngày 02-8-2022;

Đợt 7: 1.200.000.000 đồng – Ngày 08-8-2022 (đã trả 950.000.000 đồng) c n 250.000.000 đồng;

Đợt 8: 400.000.000 đồng – Ngày 10-8-2022;

Đợt 9: 500.000.000 đồng – Ngày 16-8-2022;

Đợt 10: 3.300.000.000 đồng – Ngày 12-9-2022.

Ngoài ra t i Hợp đồng cho vay tiền lập ngày 08-8-2022 quy định về việc vợ chồng ông T, bà K bảo đảm nghĩa vụ trả nợ của bà N như sau:

“3.1 Để tạo lòng tin cho bà Nguyễn Thị H1, bà Nguyễn Thị Thúy N đã cầm sổ đất của người nhà là ông Nguyễn Huy T sinh năm 1958 và vợ là bà Phạm Thị K sinh năm 1958. Ông, bà đã đồng ý và ủy quyền thửa đất số: 26545.18.167, tờ bản đồ số: 18, diện tích: 7.442,1 mét vuông tọa lạc tại Thôn H, xã L, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu cho bà Nguyễn Thị H1.

3.2 Bà Nguyễn Thị H1 cam kết giữ tài sản cho bà Nguyễn Thị Thúy N và hoàn trả lại nếu như bà N trả hết số tiền đã vay của bà H1. Trong trường hợp bà N không hoàn trả hết số tiền mà bà H1 đã cho bà N vay thì bà H1 được quyền chuyển nhượng lô đất trên cho bên thứ 3. Gia đình bà N không có quyền khiếu nại…”

Đến ngày 08-02-2023, bà H1 yêu cầu bà N cùng vợ chồng ông T, bà K trả nợ nhưng cả bà N và vợ chồng ông T, bà K đều hông th c hiện nghĩa vụ trả tiền. Do inh tế hó h n nên bà H1 đã hỏi vay anh Lương Minh T2 số tiền 4.200.000.000 đồng. Để bảo đảm nghĩa vụ trả nợ đối với anh T2, ngày 14-02-2023, bà H1 lập Hợp đồng ủy quyền l i số công chứng 547 t i V n ph ng C5, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Theo đó anh Lương Minh T2 được toàn quyền thay bà H1 đ i diện và nh n danh vợ chồng ông T – bà K th c hiện quyền và nghĩa vụ đối với thửa đất số 167.

Thời gian sau đó bà Nguy n Thị Thúy N có một số lần liên hệ để trả bớt nợ cho bà H1. Ngày 08-6-2023 các bên lập giấy vay tiền ghi nhận số tiền bà N c n nợ bà H1 là 6.000.000.000 đồng mà vợ chồng ông T, bà K đã đứng ra bảo lãnh với nội dung: “Bà H1 có cho bà Nguyễn Thị Thúy N vay với số tiền 6.000.000.000 để bà N lấy vốn làm ăn.

Bà N đã mượn sổ của ông Nguyễn Huy T và sang tên thửa số: 26545.18.167, tờ bản đồ 18, diện tích 7.422,1m2 được Ủy ban nhân dân thành phố V cấp ngày 23-3-2009 để làm tin cho bà H1 với thời gian cụ thể 3 tháng, bắt đầu từ ngày 8 tháng 6 năm 2023 và bà N chịu trách nhiệm với khoản lãi hằng tháng đến ngày lấy sổ.

Nếu quá thời gian trên mà bà N không trả tiền đã vay của bà H1 thì bà H1 được quyền chuyển nhượng thửa đất đó cho người khác mà không được khiếu nại, thưa kiện, bất cứ dưới mọi hình thức.”

Đến nay dù đã quá h n trả nợ (ngày 08-9-2023) nhưng vợ chồng ông T, bà K và bà N hông th c hiện nghĩa vụ trả nợ cho bà H1. Hành vi này không những x m ph m đến quyền và lợi ích của bà H1 mà c n ảnh hư ng đến uy tín khi bà H1 hông có tiền để trả cho anh T2 đúng thời h n.

Do vậy bà H1 hông chấp nhận yêu cầu h i iện của ông T đồng thời bà H1 có yêu cầu phản tố:

- Buộc vợ chồng ông T, bà K có nghĩa vụ liên đới trả cho bà H1 số tiền 800.000.000 đồng và lãi suất tính từ ngày 08-02-2023 với mức lãi suất 20%/n m t m tính đến ngày 08-11-2023 là 120.000.000 đồng.

- Buộc vợ chồng ông T, bà K và bà N có nghĩa vụ liên đới trả cho bà H1 số tiền 6.000.000.000 đồng và lãi suất tính từ ngày 08-6-2023 với mức lãi suất 20%/n m t m tính đến ngày 08-11-2023 là 500.000.000 đồng.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lương Minh T2 và người đại diện hợp pháp trình bày:

Tháng 02-2023, bà H1 có liên hệ ông T2 để vay tiền. Sau hi xem xét hồ sơ giấy tờ do bà H1 cung C1 thì ông T2 đã đồng cho bà H1 vay 4.200.000.000 đồng thời h n vay từ ngày 14-02-2023 đến ngày 30-7-2023 lãi suất là 2%/tháng. Khi vay, bà H1 thế C2 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AN 838091 do Ủy ban nh n d n thành phố V cấp ngày 23-3-2009 cho ông T2 bằng cách Hợp đồng ủy quyền ngày 14-02-2023 và Hợp đồng vay tiền có bảo đảm. Các bên thỏa thuận nếu bà H1 hông thanh toán đủ tiền theo đúng thời h n thì ông T2 được quyền chuyển nhượng quyền sử dụng đất nói trên. Quá trình vay, bà H1 chưa thanh toán cho ông T2 hoản tiền gốc lãi nào.

Đến thời h n thanh toán ông T2 đã nhiều lần liên hệ bà H1 trả tiền nhưng hông được nên tháng 10-2023, ông T2 đã chào bán thửa đất theo đúng như thỏa thuận với bà H1. Ngày 06-11-2023, ông T2 đã hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng diện tích đất 7.442 1m2 đất thuộc thửa đất số 167 tờ bản đồ số 18, xã L thành phố V cho ông Trần Thanh S với giá 4.200.000.000 đồng. Ông T2 đã nhận đủ số tiền này và đã bàn giao tài sản cho ông S.

Ông T2 hông đồng với yêu cầu h i iện của ông T về việc yêu cầu hủy Hợp đồng ủy quyền ngày 14-02-2023 và Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 06-11-2023 vì những giao dịch này đã được cơ quan nhà nước công chứng chứng th c và ông T2 đã th c hiện các quyền nghĩa vụ của mình theo quy định. Đối với các yêu cầu h i iện hác của ông T thì ông T2 không có iến.

Khi chuyển nhượng cho ông S thì ông T2 đã th c hiện việc thông báo cho bà H1 biết việc ông T2 sẽ chuyển nhượng tài sản thế chấp để thu hồi nợ. Ông T2 thông báo bằng cách trao đổi qua tin nhắn điện tho i.

Việc ông T2 có làm hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất nói trên cho ông L2 hay hông thì đ i diện ủy quyền của ông T2 hông biết.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Thanh S và người đại diện hợp pháp trình bày:

Ngày 06-11-2023, ông S có hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với ông Lương Minh T2 đối với diện tích 7.442 1m2 đất thuộc thửa đất số 167 tờ bản đồ số 18 xã L thành phố V với giá chuyển nhượng là 4.200.000.000 đồng. Ông S đã thanh toán đủ số tiền chuyển nhượng cho ông T2 và ông T2 đã giao cho ông S Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AN 838091 cũng như tài sản trên th c địa.

Sau hi nhận chuyển nhượng ông S mới biết đất đang bị tranh chấp. Khi ông S nhận chuyển nhượng đất của ông T2 thì đ i diện ủy quyền của ông S hông nắm rõ việc ông S có tìm hiểu thông tin thửa đất hay hông nhưng xác định là t i thời điểm đó thì đất đang do ông T2 quản l và được toàn quyền quyết định nên ông S mới mua.

Nay ông S yêu cầu T a án công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 06-11-2023 giữa ông T2 và ông có hiệu l c pháp luật.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Hữu T4 trình bày:

Ông T4 là bố của bà Nguy n Thị Thúy N. Ông T4 có biết việc trước đ y bà N có vay của bà H1 số tiền 1.200.000.000 đồng. Sau hi hông trả được nợ thì ông Nguy n Huy T và ông Nguy n V n L3 có đứng ra trả thay cho N 400.000.000 đồng trong đó của ông T là 100.000.000 đồng và ông L3 là 300.000.000 đồng. Ngày 26-02-2022, ông T4 có chứng iến việc trao đổi giữa ông T với bà H1 như Biên bản làm việc mà ông T đã cung cấp cho T a án. Nay ông T4 đồng có trách nhiệm xoay s để trả l i cho ông T số tiền 100.000.000 đồng mà ông T yêu cầu. Đối với số tiền 800.000.000 đồng thì ông T4 cần phải bàn b c với gia đình vì hiện nay ông T4 đã cao tuổi và hông có tài sản gì.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Hồng P trình bày:

Ông Lê Hồng P và ông Nguy n Huy T là anh em bà con với nhau. Vợ chồng ông Nguy n Huy T bà Ph m Thị K là chủ diện tích 7.422 1m2 thửa số 167 tờ bản đồ số 18 theo Giấy chứng nhận số AN838091 do Ủy ban nh n d n thành phố V cấp ngày 23-3-2009. Diện tích đất 7.422 1m2 hiện là các ruộng muối. Vào n m 2014 ông T có rủ ông P về làm muối trên diện tích 7.422 1m2 và thỏa thuận chia 6/4 trên ết quả làm được (ông P hư ng 6 phần gia đình ông T hư ng 4 phần). Việc làm muối mỗi n m làm 01 vụ vào mùa nắng c n vào mùa mưa thì có thể tận dụng ruộng nước để nuôi trồng thủy hải sản nhưng hiệu quả inh tế thấp.

Diện tích 7.422 1m2 thửa số 167 tờ bản đồ số 18 theo Giấy chứng nhận số AN838091 do Ủy ban nh n d n thành phố V là tài sản của ông T, bà K nhưng đã thỏa thuận giao hoán cho ông P làm muối để sinh sống. Trên đất là các ruộng muối hiện do gia đình ông P đang tr c tiếp canh tác liên tục từ n m 2014 đến nay. Trong suốt quá trình quản l sử dụng anh P hông thấy có cá nh n tổ chức nào đến bàn giao đất/nhận đất và hông có ai hác ngoài gia đình anh P và gia đình ông T sử dụng thửa đất này. Thời gian gần đ y ông P có phát hiện thấy có một số cột cắm xung quanh đất, ông P không biết ai là người cắm và cắm vì mục đích gì.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị K trình bày:

Bà đồng với các nội dung trình bày và yêu cầu h i iện của ông T. Vợ chồng bà chỉ bảo lãnh cho bà N vay số tiền 800.000.000 đồng của bà H1.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 235/2024/DS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2024 của Toà án nhân dân thành phố V, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (nay là Tòa án nhân dân khu vực X – Thành phố Hồ Chí Minh) đã tuyên xử:

1. Chấp nhận một phần yêu cầu h i iện của ông Nguy n Huy T:

- Tuyên bố Hợp đồng ủy quyền ngày 22-6-2022 giữa ông Nguy n Huy T, bà Ph m Thị K với bà Nguy n Thị H1 vô hiệu.

- Tuyên bố Hợp đồng ủy quyền l i ngày 14-02-2023 giữa bà Nguy n Thị H1 với ông Lương Minh T2 vô hiệu.

- Tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 06-11-2023 giữa ông Nguy n Huy T, bà Ph m Thị K (do ông Lương Minh T2 đ i diện) với ông Trần Thanh S vô hiệu.

- Tuyên bố các giao dịch thế chấp giữa ông Nguy n Huy T, bà Ph m Thị K với bà Nguy n Thị H1 liên quan đến thửa đất số 167 tờ bản đồ số 18 xã L, thành phố V vô hiệu.

- Buộc ông Nguy n Hữu T4 và bà Nguy n Thị Thúy N có trách nhiệm liên đới trả cho ông Nguy n Huy T, bà Ph m Thị K số tiền 100.000.000 đồng.

- Vợ chồng ông Nguy n Huy T, bà Ph m Thị K1 có trách nhiệm thanh toán l i cho bà Nguy n Thị H1 số tiền 800.000.000 đồng. Bà Nguy n Thị Thúy N có trách nhiệm hoàn trả l i cho ông Nguy n Huy T, bà Ph m Thị K số tiền 800.000.000 đồng sau hi vợ chồng ông T đã thanh toán xong cho bà H1.

- Buộc bà Nguy n Thị Thúy N có trách nhiệm trả cho ông Nguy n Huy T, bà Ph m Thị K số tiền 650.000.000 đồng nợ gốc và 146.250.000 đồng tiền lãi suất.

- Buộc bà Nguy n Thị H1, ông Trần Thanh S phải có trách nhiệm liên đới trả l i cho ông Nguy n Huy T, bà Ph m Thị K bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AN 838091 do Ủy ban nh n d n thành phố V cấp ngày 23-3-2009 đứng tên ông T, bà K.

2. Đình chỉ giải quyết yêu cầu phản tố của bà Nguy n Thị H1 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.

3. Không chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Trần Thanh S về việc “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”.

Ngoài ra bản án sơ thẩm c n quyết định về án phí chi phí tố tụng và quyền háng cáo theo luật định.

Yêu cầu kháng cáo:

Ngày 11-10-2024 bị đơn bà Nguy n Thị H1 có đơn háng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm yêu cầu T a án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng hông chấp nhận toàn bộ yêu cầu h i iện của ông Nguy n Huy T và chấp nhận toàn bộ yêu cầu phản tố của bà H1.

Ngày 11-10-2024 người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Trần Thanh S có đơn háng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm yêu cầu T a án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng hông chấp nhận toàn bộ yêu cầu h i iện của ông Nguy n Huy T và chấp nhận toàn bộ yêu cầu độc lập của ông S.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Nguyên đơn (do bà Trịnh Thị H đ i diện) giữ nguyên yêu cầu h i iện đề nghị Hội đồng xét xử hông chấp nhận yêu cầu háng cáo của bị đơn và ông Trần Thanh S giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.

Bị đơn bà Nguy n Thị H1 (do ông Nguy n Anh V đ i diện) giữ nguyên yêu cầu phản tố thay đổi yêu cầu háng cáo đề nghị Hội đồng xét xử hủy toàn bộ bản án sơ thẩm do có vi ph m nghiêm trọng về thủ tục tố tụng.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn là luật sư Lê Bá T1 cũng đề nghị Hội đồng xét xử hủy toàn bộ bản án sơ thẩm giao hồ sơ vụ án cho T a án cấp sơ thẩm giải quyết l i do có một số vi ph m nghiêm trọng về thủ tục tố tụng (cụ thể theo bản luận cứ do luật sư cung cấp).

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Trần Thanh S (do ông Trần Anh T3 đ i diện) giữ nguyên yêu cầu độc lập thay đổi yêu cầu háng cáo đề nghị Hội đồng xét xử hủy toàn bộ bản án sơ thẩm do có vi ph m nghiêm trọng về thủ tục tố tụng. Ông S xác nhận hông yêu cầu T a án giải quyết hậu quả của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu nếu cấp phúc thẩm giữ nguyên quyết định này của bản án sơ thẩm nếu các bên có tranh chấp ông S sẽ h i iện vụ án hác.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Lương Minh T2 (do ông Hồ Đặng L đ i diện) xác nhận hông yêu cầu T a án giải quyết hậu quả của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu nếu cấp phúc thẩm giữ nguyên quyết định này của bản án sơ thẩm nếu các bên có tranh chấp ông T2 sẽ h i iện vụ án hác.

Các đương s hông thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án và hông bổ sung thêm tài liệu chứng cứ.

- Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về việc giải quyết vụ án:

Về tố tụng: Đơn háng cáo của bị đơn bà Nguy n Thị H1 và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Trần Thanh S nộp trong thời h n luật định. Những người tiến hành tố tụng đã th c hiện đúng và đầy đủ trình t thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật. Những người tham gia tố tụng đã th c hiện đúng quyền nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng d n s .

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử hông chấp nhận yêu cầu háng cáo của bị đơn bà Nguy n Thị H1 và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Trần Thanh S giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

C n cứ vào các tài liệu chứng cứ đã được xem xét t i phiên t a trên cơ s ết quả tranh tụng t i phiên t a Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Đơn háng cáo của bị đơn bà Nguy n Thị H1 và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Trần Thanh S nộp trong thời h n luật định nên được chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

Bị đơn bà Nguy n Thị H1 người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Lương Minh T2, ông Trần Thanh S vắng mặt nhưng đã có người đ i diện hợp pháp tham gia phiên t a; bị đơn bà Nguy n Thị Thúy N người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Ph m Thị K, ông Nguy n Hữu T4, ông Lê Hồng P vắng mặt dù đã được triệu tập hợp lệ lần thứ 2. Do vậy Hội đồng xét xử c n cứ Điều 296 Bộ luật Tố tụng d n s xử vắng mặt các đương s trên.

T i phiên t a phúc thẩm bị đơn và ông Trần Thanh S thay đổi yêu cầu háng cáo từ yêu cầu sửa bản án sơ thẩm thành yêu cầu hủy toàn bộ bản án. Xét việc thay đổi yêu cầu háng cáo này hông vượt quá ph m vi háng cáo ban đầu nên được chấp nhận xem xét.

Xét yêu cầu kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị H1 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Thanh S về việc hủy toàn bộ bản án sơ thẩm do có vi phạm nghiêm trọng vê thủ tục tố tụng:

Về việc Tòa án cấp sơ thẩm thực hiện không đúng việc cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng cho bà Nguyễn Thị H1 theo quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 và Luật Tương trợ tư pháp năm 2007:

Cụ thể bị đơn cho rằng bà H1 đang sinh sống và làm việc t i Australia nên T a án cấp sơ thẩm phải th c hiện ủy thác tư pháp để tống đ t v n bản tố tụng hợp lệ cho bà H1 theo quy định của pháp luật.

Xét, theo đơn h i iện của nguyên đơn thì địa chỉ liên hệ của bị đơn bà H1 là t i Ấp N xã H thành phố B tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. T a án cấp sơ thẩm đã tống đ t Thông báo thụ l vụ án cho bị đơn theo địa chỉ này. Ngày 08-11-2023, bà H1 làm giấy ủy quyền cho ông Nguy n Đức M tham gia tố tụng t i T a án trong vụ án này theo Thông báo về việc thụ l vụ án số 603/2023/TB-TLVA ngày 23-10-2023 của T a án cấp sơ thẩm. Trong Giấy ủy quyền trên (Bl 29A-29) Đơn yêu cầu phản tố ngày 17-11-2023 (Bl 55-58) bản t hai ngày 17-11-2023 (Bl 52-54), bà H1 đều ghi địa chỉ của bà là Ấp N xã H thành phố B tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Do vậy đủ c n cứ xác định địa chỉ nêu trên là địa chỉ chính xác của bị đơn và việc T a án cấp sơ thẩm tống đ t niêm yết v n bản tố tụng cho bà H1 t i địa chỉ này là đúng quy định của pháp luật. Sau hi bà H1 ủy quyền cho ông M cấp sơ thẩm tống đ t v n bản tố tụng cho bà H1 thông qua người đ i diện là ông M là hoàn toàn phù hợp quy định của pháp luật.

Đến ngày 04-7-2024 T a án cấp sơ thẩm nhận được V n bản thông báo chấm dứt tư cách đ i diện theo ủy quyền cho bà H1 của ông Nguy n Đức M. Đồng thời ông M và luật sư Lê Bá T1 cũng có v n bản đề nghị T a án triệu tập bà H1 theo địa chỉ C M, Springvale V, Australia và chuyển vụ án cho T a án nh n d n tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu giải quyết theo thẩm quyền. Tuy nhiên do ông T1 hông cung cấp được giấy tờ tài liệu xác th c địa chỉ của bà H1 nước ngoài theo quy định t i hoản 1 Điều 473 Bộ luật Tố tụng d n s n m 2015 nên T a án cấp sơ thẩm hông có c n cứ để tống đ t v n bản tố tụng cho bà H1 theo địa chỉ này. Luật sư T1 có cung cấp cho T a án cấp sơ thẩm Đơn yêu cầu luật sư đề ngày 09-8-2024 có thể hiện địa chỉ của bà H1 như trên nhưng tài liệu này hông được chứng th c chữ hợp pháp của C6 t i Australia (nếu được lập t i nước này) hoặc của cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam (nếu được làm t i Thành phố Hồ Chí Minh Việt Nam). Nên T a án hông có c n cứ xác định tính xác th c của tài liệu này. Vì vậy cấp sơ thẩm hông tống đ t v n bản tố tụng cho bà H1 theo địa chỉ cư trú nước ngoài nêu trên là có c n cứ phù hợp quy định của pháp luật. Thời điểm luật sư của bị đơn cung cấp đơn đề nghị Luật sư có chứng th c của C6 t i Australia ngày 01-10-2024 là sau thời điểm xét xử sơ thẩm. Do vậy hông có c n cứ để xác định T a án cấp sơ thẩm đã vi ph m nghiêm trọng thủ tục tố tụng trong việc ủy thác tư pháp tống đ t v n bản tố tụng cho bị đơn bà H1.

Do cấp sơ thẩm đã tống đ t hợp lệ v n bản tố tụng cho bà H1 qua người đ i diện theo ủy quyền ( hi chưa chấm dứt ủy quyền) và niêm yết hợp lệ t i nơi cư trú chính xác của bà H1 nên việc T a án sơ thẩm tiến hành phiên họp iểm tra việc giao nộp tiếp cận công hai chứng cứ và h a giải và xét xử vắng mặt bà H1 là hoàn toàn phù hợp quy định của pháp luật. Nội dung háng cáo của bà H1 về vấn đề này là hông có c n cứ nên hông được chấp nhận.

Thông báo về việc cung cấp tài liệu, chứng cứ ngày 29-5-2024 của Tòa án cấp sơ thẩm gửi cho bà H1 chưa hợp lệ:

Như trên đã ph n tích do T a án cấp sơ thẩm hông có c n cứ xác định bà H1 đang cư trú nước ngoài nên T a án hông thể tiến hành ủy thác tư pháp để tống đ t các v n bản tố tụng trong đó có Quyết định về việc yêu cầu cung cấp tài liệu chứng cứ ngày 29-5-2024. Do vậy đ y hông phải là vi ph m nghiêm trọng về thủ tục tố tụng của cấp sơ thẩm.

Tòa án cấp sơ thẩm chưa tiến hành đối chất giữa bà H1, bà N và vợ chồng ông T, bà K để làm rõ những mâu thuẫn về số tiền vợ chồng ông T, bà K bảo lãnh cho bà N vay của bà H1.

Bà H1 và bà N đều vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng cấp sơ thẩm nên việc T a án cấp sơ thẩm tiến hành đối chất giữa các bên là hông thể th c hiện được. Mặt hác việc đối chất làm rõ những điểm m u thuẫn (nếu có) giữa các bên chỉ để phục vụ cho việc giải quyết yêu cầu phản tố của bị đơn về việc yêu cầu ông T, bà K liên đới cùng bà N trả hoản nợ 6.000.000.000 đồng mà bà N vay của bà H1. Tuy nhiên, do yêu cầu phản tố của bị đơn bà H1 đã bị đình chỉ giải quyết nên việc hông đối chất giữa các bên hoàn toàn hông ảnh hư ng đến việc giải quyết vụ án này.

Tòa án cấp sơ thẩm đình chỉ giải quyết yêu cầu phản tố của bà H1 là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng:

Như đã ph n tích t i mục [2.1] T a án cấp sơ thẩm đã tống đ t niêm yết hợp lệ các v n bản tố tụng cho bà H1 t i địa chỉ chính xác của bà t i Việt Nam nhưng bà H1 vắng mặt lần thứ hai t i phiên t a sơ thẩm mà hông vì tr ng i hách quan hay l do bất hả háng. Vì vậy cấp sơ thẩm đình chỉ giải quyết yêu cầu phản tố của bà H1 là phù hợp quy định t i Điều 227 Bộ luật Tố tụng d n s n m 2015. Trường hợp bà H1 vẫn tranh chấp với các đương s hác trong vụ án thì có quyền h i iện vụ án hác theo quy định của pháp luật.

Tòa án cấp sơ thẩm không chuyển vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu giải quyết theo đúng thẩm quyền:

Do bị đơn bà H1 hông cung cấp được tài liệu chứng cứ chứng minh tính xác th c của địa chỉ cư trú của bà nước ngoài nên T a án cấp sơ thẩm hông có c n cứ chuyển vụ án cho T a án nh n d n tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Mặt hác nếu địa chỉ nước ngoài của bà H1 là có thật thì vụ án này cũng hông thuộc trường hợp phải chuyển vụ án do hông thay đổi về thẩm quyền xét xử theo Điều 471 Bộ luật Tố tụng d n s n m 2015. Vì thời điểm cấp sơ thẩm thụ l vụ án, bà H1 vẫn đang cư trú t i Việt Nam theo đúng địa chỉ nguyên đơn cung cấp và được bà H1 xác nhận trong đơn yêu cầu phản tố giấy ủy quyền và bản t hai. Vì vậy việc bà H1 thay đổi nơi cư trú ra nước ngoài được th c hiện sau hi T a án sơ thẩm đã thụ l vụ án này nên hông làm thay đổi thẩm quyền giải quyết vụ án.

Tòa án cấp sơ thẩm xem xét hiệu lực của hợp đồng ủy quyền ngày 22-6-2022, hợp đồng ủy quyền ngày 14-02-2023 và hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 06-11-2023 nhưng không đưa các Văn phòng công chứng tham gia tố tụng:

Xét các hợp đồng trên bị nguyên đơn yêu cầu tuyên vô hiệu do giả cách hông đương s nào yêu cầu xem xét trách nhiệm pháp l của V n ph ng công chứng trong việc công chứng các hợp đồng trên. Vì vậy hông cần thiết đưa các V n ph ng công chứng này vào tham gia tố tụng trong vụ án theo hướng dẫn t i tiểu mục 3 Mục IV Công v n số 02/TANDTC-PC ngày 02-8-2021 của T a án nh n d n tối cao.

Về việc không đưa ông Nguyễn Thanh L1 vào tham gia tố tụng:

Theo lời hai của các bên đương s thì ông L1 có giao cho ông T 300.000.000 đồng sau đó ông T bỏ thêm 100.000.000 đồng để trả cho bà H1 một phần hoản nợ 1.200.000.000 đồng mà bà N đã vay của bà H1. Trong vụ án này các đương s hông tranh chấp hoặc yêu cầu giải quyết đối với hoản tiền 300.000.000 đồng nêu trên. Do vậy cấp sơ thẩm hông đưa ông L1 vào làm người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án là đúng quy định pháp luật. Trường hợp giữa các bên có tranh chấp về hoản tiền này thì có quyền h i iện vụ án hác.

Từ những c n cứ và ph n tích trên hông có c n cứ để chấp nhận yêu cầu háng cáo của bị đơn và ông Trần Thanh S về việc hủy bản án sơ thẩm do có vi ph m nghiêm trọng về thủ tục tố tụng.

Về việc giải quyết yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn theo bản án sơ thẩm:

Đối với Hợp đồng ủy quyền ngày 22-6-2022, Hợp đồng ủy quyền ngày 14-02-2023:

Quá trình giải quyết vụ án cấp sơ thẩm và t i phiên t a phúc thẩm các đương s đều hai thống nhất việc các hợp đồng ủy quyền trên chỉ để đảm bảo cho việc vay tiền giữa bà N với bà H1 và giữa bà H1 với ông T2 th c tế các bên hông có giao dịch chuyển nhượng hoặc ủy quyền đối với thửa đất tranh chấp. Do vậy cấp sơ thẩm tuyên vô hiệu các hợp đồng ủy quyền này là có c n cứ. Các đương s hông háng cáo đối với phần này nên cấp phúc thẩm hông xem xét l i các nội dung này. Riêng yêu cầu về việc buộc ông T, bà K trả tiền lãi của hoản nợ 800.000.000 đồng và liên đới với bà N trả hoản nợ 6.000.000.000 đồng tiền gốc và lãi phát sinh thì đã bị đình chỉ giải quyết nên cấp phúc thẩm hông xem xét l i.

Đối với Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 06-11-2023:

Ông Trần Thanh S háng cáo yêu cầu xác định ông Trần Thanh S là người thứ 3 ngay tình nên phải được bảo vệ: Nội dung này đã được cấp sơ thẩm nhận định và giải quyết đúng quy định của pháp luật. Cụ thể ông S hông phải là người thứ 3 ngay tình trong mối quan hệ với ông T, bà K, vì ông S nhận chuyển nhượng thửa đất tranh chấp từ chính ông T, bà K1 (do ông T2 đ i diện) t i thời điểm chuyển nhượng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vẫn đứng tên của ông T, bà K mà chưa sang tên cho bà H1 hoặc ông T2. Do vậy ông S hông phải là người thứ 3 ngay tình theo quy định của pháp luật. Mặt hác thời điểm ông S nhận chuyển nhượng thửa đất trên từ ông T, bà K (do ông T2 đ i diện theo ủy quyền) thì thửa đất này đã là đối tượng tranh chấp trong vụ án này theo đơn h i iện của ông T. Trước đó V n ph ng đ ng đất đai thành phố V cũng đã trả hồ sơ đ ng biến động sang tên cho ông Lương V n L2 đối với thửa đất này do có tranh chấp nên hông thể nói ông S hông biết việc thửa đất này đang có tranh chấp hi nhận chuyển nhượng.

Do ông S hông phải là người thứ 3 ngay tình ông T2 cũng hông có thẩm quyền đ i diện cho ông T, bà K để hợp đồng chuyền nhượng thửa đất tranh chấp cho ông S do hợp đồng ủy quyền vô hiệu. Vì vậy cấp sơ thẩm tuyên vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông T, bà K (do ông T2 đ i diện) với ông S là hoàn toàn phù hợp quy định của pháp luật nên cần giữ nguyên quyết định này.

Về giải quyết hậu quả của hợp đồng chuyển nhượng vô hiệu: Cấp sơ thẩm đã giải thích hậu quả hợp đồng vô hiệu và hỏi các đương s về việc có yêu cầu giải quyết hậu quả hay hông nhưng ông T2 và ông S đều hẳng định hông yêu cầu giải quyết trong vụ án này nếu có yêu cầu sẽ h i iện vụ án hác. T i phiên t a phúc thẩm người đ i diện hợp pháp của ông T2 và ông S vẫn hẳng định hông yêu cầu T a án giải quyết hậu quả của hợp đồng chuyển nhượng vô hiệu. Do vậy cấp sơ thẩm hông giải quyết hậu quả của hợp đồng chuyển nhượng vô hiệu là đúng quy định của pháp luật.

Đối với các quyết định hác của bản án sơ thẩm hông bị háng cáo cấp sơ thẩm đã giải quyết đúng quy định pháp luật nên hông xem xét l i.

Về án phí phúc thẩm: Kháng cáo hông được chấp nhận nên bà H1 và ông S phải chịu án phí d n s phúc thẩm được trừ vào số tiền t m ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

C n cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân s ; không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn bà Nguy n Thị H1; không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Trần Thanh S, giữ nguyên các quyết định của bản án sơ thẩm như sau:

C n cứ vào các Điều 117 Điều 119 Điều 122 Điều 123 Điều 124 Điều 129 Điều 131 Điều 463 Điều 466 Điều 468 Điều 500 Điều 501 Điều 503 của Bộ luật D n s n m 2015Điều 188 Luật Đất đai 2013; Điều 26 Điều 35 Điều 39 Điều 227 Điều 228 Điều 244 Điều 266 Điều 271 Điều 273 Điều 296 Bộ luật Tố tụng d n s ; Điều 12 Điều 26 Điều 29 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận một phần yêu cầu h i iện của ông Nguy n Huy T về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản, hợp đồng ủy quyền, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”.

- Tuyên bố Hợp đồng ủy quyền ngày 22-6-2022 t i V n ph ng C3 tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu số công chứng 04439 quyển số 1E/2022/TP/CC-SCC/HĐGD giữa ông Nguy n Huy T, bà Ph m Thị K với bà Nguy n Thị H1 vô hiệu.

- Tuyên bố Hợp đồng ủy quyền l i ngày 14-02-2023 t i Phòng C4 tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu số công chứng 547 quyển số 01/2023 TP/CC-SCC/HĐGD giữa bà Nguy n Thị H1 và ông Lương Minh T2 vô hiệu.

- Tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 06-11-2023 t i Phòng C4 tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu số công chứng 6036 quyển số 02/2023TP/CC-SCC/HĐGD giữa ông Lương Minh T2 và ông Trần Thanh S vô hiệu.

- Tuyên bố các giao dịch thế chấp giữa ông Nguy n Huy T, bà Ph m Thị K với bà Nguy n Thị H1 liên quan đến thửa đất số 167 tờ bản đồ số 18 xã L, thành phố V vô hiệu.

- Buộc ông Nguy n Hữu T4 và bà Nguy n Thị Thúy N có trách nhiệm liên đới trả cho ông Nguy n Huy T, bà Ph m Thị K số tiền 100.000.000 (một tr m triệu) đồng.

- Ông Nguy n Huy T và bà Ph m Thị K có trách nhiệm thanh toán cho bà Nguy n Thị H1 số tiền 800.000.000 (tám tr m triệu) đồng. Bà Nguy n Thị Thúy N có trách nhiệm hoàn trả l i cho ông Nguy n Huy T, bà Ph m Thị K số tiền 800.000.000 (tám tr m triệu) đồng sau hi ông T, bà K đã thanh toán xong cho bà H1.

- Buộc bà Nguy n Thị Thúy N có trách nhiệm trả cho ông Nguy n Huy T, bà Ph m Thị K số tiền 796.250.000 (bảy tr m chín mươi sáu triệu hai tr m n m mươi ngàn) đồng trong đó: 650.000.000 (sáu tr m n m mươi triệu) đồng nợ gốc và 146.250.000 (một tr m bốn mươi sáu triệu hai tr m n m mươi ngàn) đồng tiền lãi.

- Buộc bà Nguy n Thị H1 và ông Trần Thanh S phải có trách nhiệm liên đới trả l i cho ông Nguy n Huy T, bà Ph m Thị K bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AN 838091 do Ủy ban nh n d n thành phố V, tỉnh Bà Rịa

- Vũng Tàu cấp ngày 23-3-2009 đứng tên ông Nguy n Huy T và bà Ph m Thị K.

Trường hợp ông Trần Thanh S và bà Nguy n Thị H1 hông giao trả l i bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AN 838091 thì ông T, bà K được quyền liên hệ Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để cưỡng chế thi hành án theo quy định của pháp luật.

Kể từ ngày bên được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

2. Đình chỉ giải quyết các yêu cầu phản tố của bà Nguy n Thị H1 về việc:

- Buộc vợ chồng ông Nguy n Huy T, bà Ph m Thị K có nghĩa vụ liên đới trả cho bà Nguy n Thị H1 số tiền 800.000.000 đồng và lãi suất tính từ ngày 08-02-2023 với mức lãi suất 20%/n m t m tính đến ngày 08-11-2023 là 120.000.000 đồng.

- Buộc vợ chồng Nguy n Huy T, bà Ph m Thị K và bà Nguy n Thị Thúy N có nghĩa vụ liên đới trả cho bà Nguy n Thị H1 số tiền 6.000.000.000 đồng và lãi suất tính từ ngày 08-6-2023 với mức lãi suất 20%/n m t m tính đến ngày 08-11-2023 là 500.000.000 đồng.

3. Không chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Trần Thanh S về việc công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 06-11-2023 giữa ông Lương Minh T2 và ông Trần Thanh S có hiệu l c pháp luật.

4. Về chi phí sao lục định giá tài sản: Tổng chi phí là 7.000.000 (bảy triệu) đồng ông Nguy n Huy T t nguyện chịu và đã nộp xong.

5. Về án phí d n s sơ thẩm:

Ông Trần Thanh S phải nộp 300.000 (ba tr m ngàn) đồng tiền án phí d n s sơ thẩm được hấu trừ vào số tiền 300.000 (ba tr m ngàn) t m ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0005798 ngày 09 tháng 5 n m 2024 của Chi cục Thi hành án d n s thành phố V tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (nay là Thi hành án d n s Thành phố H). Ông S đã nộp xong.

Sung vào Ng n sách Nhà nước số tiền t m ứng án phí 57.710.000 (n m mươi bảy triệu bảy tr m mười ngàn) đồng mà bà Nguy n Thị H1 đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0002313 ngày 05 tháng 12 n m 2023 của Chi cục Thi hành án d n s thành phố V tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (nay là Thi hành án d n s Thành phố H).

Bà Nguy n Thị Thúy N phải nộp 61.387.500 (sáu mươi mốt triệu ba tr m tám mươi bảy ngàn n m tr m) đồng tiền án phí d n s sơ thẩm.

Bà Nguy n Thị H1 phải nộp 300.000 (ba tr m ngàn) đồng tiền án phí d n s sơ thẩm.

Ông Nguy n Huy T, bà Ph m Thị K được mi n nộp tiền án phí.

6. Về án phí d n s phúc thẩm: Bà Nguy n Thị H1 phải nộp 300.000 (ba tr m ngàn) đồng án phí d n s phúc thẩm được trừ vào số tiền 300.000 (ba tr m ngàn) đồng t m ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0004492 ngày 21 tháng 10 n m 2024 của Chi cục Thi hành án d n s thành phố Vũng Tàu tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (nay là Thi hành án d n s Thành phố H).

Ông Trần Thanh S phải nộp 300.000 (ba tr m ngàn) đồng án phí d n s phúc thẩm được hấu trừ vào số tiền 300.000 (ba tr m ngàn) đồng t m ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0004491 ngày 21 tháng 10 n m 2024 của Chi cục Thi hành án d n s thành phố Vũng Tàu tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (nay là Thi hành án d n s Thành phố H).

7. Bản án dân s phúc thẩm có hiệu l c pháp luật kể từ ngày tuyên án (13-8-2025).

Trường hợp bản án quyết định được thi hành theo qui định t i Điều 2 Luật Thi hành án d n s thì người được thi hành án d n s người phải thi hành án d n s có quyền thoả thuận thi hành án quyền yêu cầu thi hành án t nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định t i các Điều 6 7 7a 7b và 9 Luật Thi hành án d n s ; thời hiệu thi hành án được th c hiện theo qui định t i Điều 30 Luật Thi hành án d n s .

Cỡ chữ