vanban.org

Bản án 894/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Đồng Ngọc H đối với ông Nguyễn Quốc C.

Giấy chứng nhận kết hôn số 06 do Ủy ban nhân dân phường N, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa cấp ngày 19/01/2012 không còn giá trị pháp lý kể từ thời điểm bản án có hiệu lực pháp luật. Về con chung: có 01 con chung tên Nguyễn Quốc B, sinh ngày 15/7/2013. Giao trẻ Nguyễn Quốc B cho ông Nguyễn Quốc C trực tiếp… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Đồng Ngọc H đối với ông Nguyễn Quốc C.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN BÌNH TÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 894/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 05/07/2023
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: ông Huỳnh Nhất Bình

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Bùi Diệu Huệ.

2. Bà Lê Thị Tý.

- Thư ký tòa án ghi biên bản phiên tòa: ông Võ Minh Tiện – Là thư ký Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: ông Trương Hoài Ninh– Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 7 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 1883/2022/TLST-HNGĐ, ngày 01 tháng 12 năm 2022, về việc “Tranh chấp Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 174/2023/QĐXXST-HNGĐ , ngày 23 tháng 5 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa sơ thẩm số 149/2023/QĐST-HNGĐ, ngày 12 tháng 06 năm 2023, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Đồng Ngọc H, sinh năm: 1990;

Thường trú: tổ dân phố S, phường N, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa; Chỗ ở: Tổ 1, khu phố S, phường U, thị xã U, tỉnh Bình Dương; (Có đơn xét xử vắng mặt).

Bị đơn: Ông Nguyễn Quốc C, sinh năm: 1980;

Thường trú: phường N, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa; Tạm trú: 20/38 đường T1, khu phố B, phường B, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn xin ly hôn của bà Đồng Ngọc H và bản tự khai của đương sự tại Tòa án cùng các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ thì nội dung vụ án được xác định như sau:

Nguyên đơn bà Đồng Ngọc H trình bày: Bà và ông Nguyễn Quốc C kết hôn với nhau theo giấy chứng nhận kết hôn số 06 do Ủy ban nhân dân phường N, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa cấp ngày 19/01/2012. Cuộc sống vợ chồng bà hạnh phúc được một thời gian. Tuy nhiên, sau đó giữa hai vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, thường xuyên gây gỗ và không thống nhất được cách giải quyết. Nguyên nhân mâu thuẫn chủ yếu do hai vợ chồng bất đồng quan điểm kéo dài trong nhiều năm, thường xuyên xung đột cãi vã. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không hạnh phúc nên bà yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Quốc C.

+Về con chung: có 01 con chung tên Nguyễn Quốc B, sinh ngày 15/7/2013, hiện tại trẻ Nguyễn Quốc B đang ở cùng với ông Nguyễn Quốc C, việc sinh hoạt, ăn, ở và học hành đã ổn định. Bà H yêu cầu giao con chung là trẻ Nguyễn Quốc B cho ông C trực tiếp nuôi dưỡng, hiện nay do hoàn cảnh khó khăn nên tạm thời bà không cấp dưỡng.

+Về tài sản chung, nợ chung: bà Đồng Ngọc H khai không có.

Bị đơn ông Nguyễn Quốc C: bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn không đến Tòa án, vắng mặt không rõ lý do và không có văn bản ghi nhận ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn gửi cho Tòa án.

Tại phiên tòa hôm nay, bà Đồng Ngọc H có đơn xin vắng mặt, ông Nguyễn Quốc C vắng mặt không rõ lý do.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến và kết luận: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án Tòa án đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về thẩm quyền, thủ tục tố tụng. Hội đồng xét xử đã thực hiện đầy đủ và đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về nội dung, đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đồng Ngọc H.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Đồng Ngọc H và ông Nguyễn Quốc C có đăng ký kết hôn theo giấy chứng nhận kết hôn số 06 do Ủy ban nhân dân phường N, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa cấp ngày 19/01/2012, bà Đồng Ngọc H có yêu cầu xin ly hôn với ông Nguyễn Quốc C đây là tranh chấp ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015. Bị đơn là ông Nguyễn Quốc C cư trú tại quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh.

Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn là bà Đồng Ngọc H có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn là ông Nguyễn Quốc C đã được Tòa án triệu tập hợp lệ theo quy định của pháp luật, nhưng ông Nguyễn Quốc C vẫn vắng mặt không có lý do nên căn cứ vào quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ Luật Tố tụng Dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

Về nội dung: Căn cứ giấy chứng nhận kết hôn số 06 do Ủy ban nhân dân phường N, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa cấp ngày 19/01/2012, cùng lời khai của bà

-2-Đồng Ngọc H về việc các đương sự tự nguyện kết hôn với nhau, nên có căn cứ xác định hôn nhân giữa bà Đồng Ngọc H và ông Nguyễn Quốc C là hôn nhân hợp pháp.

Bà Đồng Ngọc H có yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Quốc C vì giữa bà và ông C trong quá trình sống chung không hạnh phúc. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm kéo dài trong nhiều năm, không có tiếng nói chung trong cuộc sống, thường xuyên xung đột cãi vã. Đối với ông Nguyễn Quốc C, Tòa án đã nhiều lần triệu tập ông đến Tòa để làm việc nhưng ông không đến Tòa và không có ý kiến gì về yêu cầu của bà Đồng Ngọc H.

Như vậy, có cơ sở để xác định mâu thuẫn vợ chồng trong quan hệ hôn nhân giữa bà Đồng Ngọc H và ông Nguyễn Quốc C là trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài, đồng thời ông C cũng không có ý kiến gì về yêu cầu và những nội dung mà bà H đã trình bày trong quá trình giải quyết vụ án, nên việc bà H yêu cầu được ly hôn với ông C là có căn cứ chấp nhận.

- Về con chung: có 01 con chung tên Nguyễn Quốc B, sinh ngày 15/7/2013, hiện tại trẻ Nguyễn Quốc B đang ở cùng với ông Nguyễn Quốc C, việc sinh hoạt, ăn, ở và học hành đã ổn định. Vì vậy, cần chấp nhận yêu cầu của bà H tiếp tục giao trẻ Nguyễn Quốc B cho ông C trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc.

Về cấp dưỡng nuôi con: bà H trình bày hiện nay do hoàn cảnh khó khăn nên tạm thời bà không cấp dưỡng. Xét thấy do ông C vắng mặt và không có ý kiến về vấn đề này nên tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng của bà H, khi nào các đương sự có yêu cầu sẽ giải quyết bằng một vụ kiện khác.

- Về tài sản chung và nợ chung: bà H khai không có.

- Về án phí sơ thẩm: Bà Đồng Ngọc H phải chịu theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

Đề nghị của đại diệnViện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân là phù hợp với quy định của pháp luật nên thống nhất

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 21, khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 91, khoản 2 Điều 92, khoản 4 Điều 147, khoản 1, khoản 3 Điều 228, khoản 1 Điều 273 và khoản 1 Điều 280 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;

Căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Đồng Ngọc H đối với ông Nguyễn Quốc C.

-3-

Giấy chứng nhận kết hôn số 06 do Ủy ban nhân dân phường N, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa cấp ngày 19/01/2012 không còn giá trị pháp lý kể từ thời điểm bản án có hiệu lực pháp luật.

2. Về con chung: có 01 con chung tên Nguyễn Quốc B, sinh ngày 15/7/2013. Giao trẻ Nguyễn Quốc B cho ông Nguyễn Quốc C trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Do hoàn cảnh bà H hiện khó khăn nên tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con của bà H. Việc cấp dưỡng nuôi con sẽ được giải quyết bằng một vụ kiện khác khi các đương sự có yêu cầu.

Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom của người đó. Vì lợi ích của con chung, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con.

4. Về tài sản chung và nợ chung: Bà Đồng Ngọc H khai không có.

5. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) bà Đồng Ngọc H phải chịu, được trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) bà H đã nộp theo biên lai thu số 0010167 ngày 01/12/2022 của Chi cục thi hành án dân sự quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Đồng Ngọc H đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.

6. Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Viện Kiểm sát cùng cấp và cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ