vanban.org

Bản án 894/2022/HS-PT — Hình sự

TAND cấp cao tại TP Hồ Chí Minh Tuyên án 12/12/2022 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 12/12/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Trương Trung H.

Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 35/2022/HSST ngày 01 tháng 7 năm 2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau Tuyên bố: Bị cáo Trương Trung H phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trương Trung H bị xét xử - phạm tội vận chuyển trái phép chất ma túy (điều 250 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Trương Trung H.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 894/2022/HS-PT
Ngày: 12 - 12 - 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Công Mười

Các Thẩm phán:

Ông Lê Thành Văn

Ông Phạm Văn Công

- Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Thế Mạnh - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Vũ Thanh Sơn - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 552/2022/TLPT- HS ngày 05 tháng 8 năm 2022 đối với bị cáo Trương Trung H do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 35/2022/HSST ngày 01 tháng 7 năm 2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.

- Bị cáo có kháng cáo: Trương Trung H (tên gọi khác: Cọp), sinh ngày 01 tháng 01 năm 1997 tại tỉnh Cà Mau; Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: Ấp Trung Cang, xã TT, huyện Đ, tỉnh Cà Mau; nơi cư trú: Hẻm Bình Minh, Khóm 2, Phường 8, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: Tài xế; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trương Tg và bà Trương K; vợ, con: Không; tiền sự, tiền án: Không;

Bị bắt, tạm giữ ngày 09/4/2021 và chuyển tạm giam đến nay; có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo Trương Trung H: Ông Trần Đức Tiến – là Luật sư của Văn phòng luật sư Trần Đức Tiến thuộc Đoàn luật sư tỉnh Cà Mau; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nội dung vụ án tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ ngày 09 tháng 4 năm 2021, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy và Đội Cảnh sát giao thông Công an thành phố Cà Mau kết hợp với Công an xã TV, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau tuần tra trên tuyến Quốc lộ 1A, khi đến khu vực Ấp 3, xã TV, phát hiện xe mô tô biển kiểm soát 83E1-07245 do Lưu Phước M điều khiển chở Trương Trung H ngồi sau có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu dừng phương tiện kiểm tra.

Kiểm tra phát hiện 03 bọc nilon màu trắng bên trong chứa chất bột màu trắng đục dạng rắn (nghi là ma túy), 03 bọc nilon này được gói trong khăn giấy màu trắng, quấn băng keo màu trắng, bên ngoài được quấn băng keo màu đen và cất giấu bên trong bịch tã hiệu Bobby (bịch tã có quai xách, miệng bịch tã được xé hở) được treo ở bửng chắn gió bên phải của xe. Lực lượng tiến hành lập biên bản phạm tội quả tang thu giữ 03 bọc nilon trên, niêm phong mã số PS3A 086054, có chữ ký của H, M, Điều tra viên, cán bộ Đội Cảnh sát giao thông và Trưởng ấp 3, xã TV.

Ngoài ra, lực lượng còn thu giữ của H 01 điện thoại di động hiệu JVJ màu đen đã cũ có gắn sim số xxxxxxxxxx; tạm giữ của M 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu trắng; xe mô tô 83E1-07245; bịch tã có dòng chữ Bobby bên trong có 23 miếng tã trẻ em.

Kết luận giám định số 105/GĐH-PC09 ngày 13 tháng 4 năm 2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cà Mau, kết luận: Chất bột màu trắng đục dạng rắn bên trong 03 (ba) bọc nilon được niêm phong kín trong túi niêm phong có ký hiệu PS3, mã số PS3A 086054, ký hiệu M.43/2021 thu giữ vào ngày 09 tháng 4 năm 2021 gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 112,6469 gam, loại Heroin.

Trương Trung H khai nhận số ma túy thu giữ là của Ngô Minh C giao cho H tại cầu Định Thành thuộc địa phận tỉnh Bạc Liêu để vận chuyển về giao cho bà Phạm Thị Ngọc P (mẹ của C, ở gần nhà H). Trên đường vận chuyển thì bị lực lượng công an bắt quả tang cùng tang vật. Đối với Ngô Minh C và bà Phạm Thị Ngọc P không thừa nhận có thuê, mượn H vận chuyển trái phép chất ma túy, không có liên quan đến số ma túy mà H vận chuyển.

Cáo trạng số 10/CT – VKS – P1 ngày 17 tháng 02 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau truy tố bị cáo Trương Trung H về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 4 Điều 250 Bộ luật Hình sự.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 35/2022/HSST ngày 01 tháng 7 năm 2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau, quyết định:

Căn cứ vào điểm b khoản 4 Điều 250; Điều 38; điểm c khoản 1 Điều 47; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; Điều 106; khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

- Tuyên bố bị cáo Trương Trung H phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”.

- Tuyên phạt bị cáo Trương Trung H 20 (Hai mươi) năm tù; Thời hạn chấp hành án phạt tù được tính kể từ ngày 09/4/2021.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí hình sự sơ thẩm và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 05/7/2022, bị cáo Trương Trung H có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm như sau:

Tòa án cấp sơ thẩm xác định bị cáo Trương Trung H phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” là đúng người, đúng tội.

Với khối lượng heroin mà bị cáo đã vận chuyển được xác định là đặc biệt nghiêm trọng, do đó mức hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên là tương xứng với tính chất, mức độ tội phạm mà bị cáo đã thực hiện.

Đề nghị không chấp nhận yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ của bị cáo H.

* Người bào chữa cho bị cáo trình bày: Bị cáo có tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, đồng thời người thân của bị cáo có công với cách mạng. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định như sau:

Chứng cứ đã thu thập tại hồ sơ vụ án thể hiện: Vào lúc 11 giờ ngày 09 tháng 4 năm 2021, tại đoạn đường Quốc lộ 1A thuộc khu vực Ấp 3, xã TV, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố Cà Mau bắt quả tang Trương Trung H có hành vi vận chuyển trái phép ma túy bằng xe mô tô biển kiểm soát 83E1-07245 do Lưu Phước M điều khiển chở H ngồi sau. Tang vật thu giữ 03 bọc nilon màu trắng bên trong chứa chất bột màu trắng đục dạng rắn (nghi là ma túy) được niêm phong.

Kết luận giám định số 105/GĐH-PC09 ngày 13 tháng 4 năm 2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cà Mau, kết luận: Chất bột màu trắng đục dạng rắn bên trong 03 (ba) bọc nilon được niêm phong là ma túy, có tổng khối lượng 112,6469 gam, loại Heroin.

Quá trình điều tra, bị cáo cho rằng chỉ vận chuyển số ma túy trên cho đối tượng Ngô Minh C. Tuy nhiên, kết quả điều tra, chứng cứ có tại hồ sơ chưa đủ để kết luận số ma túy trên do tên Ngô Minh C là người giao cũng như không đủ chứng cứ kết luận số ma túy trên vận chuyển về cho bà Phạm Thị Ngọc P. Căn cứ vào lời khai nhận của bị cáo thì động cơ, mục đích vận chuyển ma túy của bị cáo vận chuyển giúp người khác. Do đó, việc Tòa án cấp sơ thẩm xác định hành vi của bị cáo đã phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 4 Điều 250 Bộ luật Hình sự là có căn cứ.

Xét tính chất, mức độ và hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là đặc biệt nghiêm trọng, gây nguy hiểm lớn cho xã hội. Vì vậy, việc áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo để cải tạo, răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội là cần thiết. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử sơ thẩm có xem xét tình tiết giảm nhẹ, bị cáo thành khẩn khai báo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo mức hình phạt 20 (hai mươi) năm tù là phù hợp.

Chính vì vậy, yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo là không có cơ sở để chấp nhận.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

Quan điểm của Luật sư bào chữa cho bị cáo theo đó là không có cơ sở để chấp nhận.

Đối với Ngô Minh C và Phạm Thị Ngọc P: Kết quả điều tra chứng cứ có tại hồ sơ chưa đảm bảo căn cứ để buộc tội đối với hai đối tượng này. Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau đã tách ra, đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục điều tra khi có căn cứ xử lý sau. Tòa án cũng đã trả hồ sơ cho Viện kiểm sát để điều tra bổ sung xem xét xử lý đối với Ngô Minh C và Phạm Thị Ngọc P trong cùng vụ án nhưng không được Viện kiểm sát chấp nhận. Căn cứ vào Điều 298 Bộ luật Tố tụng hình sự, Tòa án xét xử đối với Trương Trung H mà không đặt ra xem xét hành vi của Ngô Minh C và bà Phạm Thị Ngọc P trong vụ án này.

Do kháng cáo không được chấp nhận, vì vậy bị cáo phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định pháp luật.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 355 Bộ luật tố tụng hình sự.

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Trương Trung H.

Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 35/2022/HSST ngày 01 tháng 7 năm 2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau

Áp dụng điểm b khoản 4 Điều 250; Điều 38; điểm c khoản 1 Điều 47; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; Điều 106; khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên bố: Bị cáo Trương Trung H phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”.

Tuyên phạt bị cáo Trương Trung H 20 (Hai mươi) năm tù; Thời hạn chấp hành án phạt tù được tính kể từ ngày 09/4/2021.

Tiếp tục giam giữ bị cáo để đảm bảo thi hành án.

Bị cáo Trương Trung H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ