- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hon"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Văn P xin ly hôn với bà Nguyễn Thị L.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HOÀ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH LONG AN Bản án: 89/2023/HNGĐ-ST Ngày: 04 - 4 – 2023 “V/v Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán Chủ tọa phiên tòa: Ông Mai Văn Hiệp.
Các hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Chí Lin.
2. Bà Nguyễn Thị Mỹ Thanh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hảo là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.
Ngày 04 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 248/2023/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 3 năm 2023 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 80/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 3 năm 2023, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Lê Văn P, sinh năm: 1950.
Địa chỉ: Ấp N, xã Đ, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.
2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm: 1968.
Địa chỉ: Ấp N, xã Đ, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.
(Ông P và bà L xin vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn xin ly hôn ngày 08 tháng 3 năm 2023 và những lời khai tiếp theo trong quá trình giải quyết nguyên đơn ông Lê Văn P trình bày: Ông Lê Văn P và bà Nguyễn Thị L chung sống với nhau vào năm 2009, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An ngày 07 tháng 7 năm 2009. Vợ chồng chung sống hạnh phúc được thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do bất hòa trong cuộc sống, vợ chồng thường xuyên cải vả, cuộc sống chung không phù hợp. Nay ông P xét thấy tình cảm vợ chồng không còn khả năng hàn gắn nên xin ly hôn bà L.
Về con chung: Ông P khai, ông P và bà L chung sống không có con chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Ông P khai, ông P và bà L chung sống không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Ông P khai, ông P và bà L chung sống không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với bà Nguyễn Thị L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng bà L không đến Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An làm việc hoặc phản hồi ý kiến của bà L về việc giải quyết vụ án mà chỉ xin vắng mặt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên Toà căn cứ các kết quả thẩm tra, xét hỏi tại phiên Toà. Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Về quan hệ pháp luật tranh chấp là hôn nhân gia đình; Bị đơn bà Nguyễn Thị L có hộ khẩu thường trú tại ấp N, xã Đ, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An (Theo văn bản xác minh gày 08 tháng 3 năm 2023 của Công an xã Đ) nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Đức Hoà, tỉnh Long An theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[1.2] Nguyên đơn ông Lê Văn P và bị đơn bà Nguyễn Thị L đều xin vắng mặt nên căn cứ vào khoản 1 Điều 227 và khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt ông P và bà L.
Về nội dung vụ án:
Về quan hệ hôn nhân: Ông Lê Văn P và bà Nguyễn Thị L chung sống với nhau vào năm 2009, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đức Hòa Thượng, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An ngày 07 tháng 7 năm 2009 nên quan hệ hôn nhân của ông P và bà L được xem là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Ông P và bà L chung sống với nhau hạnh phúc thời gian đầu thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên cải vã dù hai bên đã cố gắng hàn gắn để kéo dài cuộc sống hôn nhân nhưng không được. Nay ông P xét thấy nguyên nhân mâu thuẫn đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không còn đạt được nên tha thiết xin được ly hôn với bà L. Ngược lại, bà L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng cố tình vắng mặt không đến Tòa án để tham gia hòa giải đoàn tụ cũng như không tham gia phiên tòa. Từ đó, Hội đồng xét xử xét thấy, mâu thuẫn gia đình giữa ông P và bà L đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không còn đạt được và cuộc sống chung vợ chồng không thể kéo dài. Vì vậy, ông P yêu cầu được ly hôn với bà L là phù hợp theo Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về con chung: Ông P khai, ông P và bà L chung sống không có con chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ngược lại, bà L đã được triệu tập hợp lệ nhưng không phản hồi ý kiến nên Hội đồng xét xử không xem xét nếu sau này có yêu cầu sẽ được giải quyết bằng một vụ án khác.
Về tài sản chung: Ông P khai, ông P và bà L chung sống không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ngược lại, bà L đã được triệu tập hợp lệ nhưng không phản hồi ý kiến nên Hội đồng xét xử không xem xét nếu sau này có yêu cầu sẽ được giải quyết bằng một vụ án khác.
Về nợ chung: Ông P khai, ông P và bà L chung sống không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ngược lại, bà L đã được triệu tập hợp lệ nhưng không phản hồi ý kiến nên Hội đồng xét xử không xem xét nếu sau này có yêu cầu sẽ được giải quyết bằng một vụ án khác.
Về án phí: Ông Lê Văn P không phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28, Điều 35, Điều 147, khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 5 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình 2014;
Căn cứ vào khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2014 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Văn P xin ly hôn với bà Nguyễn Thị L.
Về quan hệ hôn nhân: Ông Lê Văn P được ly hôn với bà Nguyễn Thị L.
Về con chung: Ông P khai, ông P và bà L chung sống không có con chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, không đề cập xem xét.
Về tài sản chung: Ông P khai, ông P và bà L chung sống không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, không đề cập xem xét.
Về nợ chung: Ông P khai, ông P và bà L chung sống không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, không đề cập xem xét.
Về án phí: Ông Lê Văn P không phải chịu án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Án này là sơ thẩm, ông P và bà L vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày niêm yết./.
| Nơi nhận: - Các đương sự. - VKSND huyện. - TAND tỉnh Long An. - UBND xã Đ, huyệnĐức Hòa, tỉnh Long An. - Lưu HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Mai Văn Hiệp |