vanban.org

Bản án 89

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Bùi Văn C phạm tội “Cố ý gây thương tích".

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Bùi Văn C 02 (Hai) năm tù nhưng được cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 04 (Bốn) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 20/9/2022). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Bùi Văn C - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Bùi Văn C phạm tội “Cố ý gây thương tích".
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NGHI LỘC
TỈNH NGHỆ AN
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 89/2022HS-ST
Ngày 20 - 9 - 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHI LỘC – TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lưu Thị Hồng Thể

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Xuân Vinh

Ông Lê Quang Hòa

- Thư ký phiên tòa: bà Phan Thị Hải

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghi Lộc tham gia phiên tòa: Ông Đặng Hồng Quân - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 9 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 81/2022/TLST-HS ngày 08 tháng 8 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 112/2022/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 8 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên toà số 05/2022/HSST-QĐ ngày 31 tháng 8 năm 2022 đối với bị cáo:

Họ và tên: Bùi Văn C - sinh ngày 12/01/1974 tại huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An. Tên gọi khác: Không. Nơi cư trú: xóm 5 xã H, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An. Nghề nghiệp: làm ruộng; Trình độ học vấn: 3/12; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: không; Giới tính: Nam; Con ông Bùi Văn A và bà Nguyễn Thị K; vợ Bùi Thị L (sinh năm 1977) và có 03 con; Tiền sự, Tiền án: không. Bị áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt.

Bị hại: Chị Bùi Thị Thanh M – sinh năm 2002; Địa chỉ: xóm 5 xã H, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.

Người đại diện theo ủy quyền của chị M: Bà Nguyễn Thị H – sinh năm 1971; Địa chỉ: xóm 5 xã H, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bùi Văn C và ông Bùi Văn L là anh em ruột, nhà ở bên cạnh nhau. Do mâu thuẫn từ trước, nên đến khoảng 21 giờ ngày 17/02/2022, C và ông L xảy ra cãi vã, xô xát nhau. Sau khi được can ngăn, C đi về thì bị chị Bùi Thị Thanh M (con gái của ông L) ném 1 chiếc dép vào người nhưng không trúng. Đến lúc 23 giờ cùng ngày, khi C đang điều khiển xe moto BKS 37B1-845.10 kéo theo chiếc xe kéo 02 bánh chở 8 tấm côtpha gỗ từ nhà ông Q (em trai ở cùng xóm) về thì thấy chị M đang cầm 01 thanh tre đứng trước cổng. Nghĩ là chị M có ý định tấn công mình nên C đã điều khiển xe hướng về phía chị M rồi dùng chân trái đạp vào chị M khiến chị M ngã ra đường và điều khiển bánh xe kéo cán qua chân gây thương tích ở bàn chân và mắt cá chân. Chị M được đưa đi cấp cứu và điều trị tại Bệnh viện Đa khoa huyện Nghi Lộc từ ngày 17/02/2022 đến ngày 28/02/2022 thì ra viện.

Tại Kết luận giám định pháp y về thương tích số 158/TTPY ngày 12/4/2022 của Trung tâm Pháp y Sở Y tế Nghệ An kết luận:

“1. Dấu hiệu chính qua giám định:

Gãy 1/3 dưới xương mác và gãy mắt cá trong chân trái đã mổ kết hợp xương.

Một sẹo vết thương khớp ngón bàn chân I bàn chân bên trái và một sẹo phẫu thuật kết hợp xương mắt cá trong chân bên trái. Hiện tại ổn định”

2. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 16%.”

Cơ quan điều tra đã tịch thu và đến ngày 30/8/2022 thì chuyển chiếc xe moto BKS 37B1-845.10 và chiếc xe kéo chở 8 tấm cốtpha sang Chi cục thi hành án dân sự huyện Nghi Lộc bảo quản.

Bị hại yêu cầu bị cáo đã bồi thường thiệt hại về sức khỏe với số tiền là 180.690.000 đồng.

Tại bản cáo trạng số 86/CT-VKS-NL ngày 05/8/2022 Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghi Lộc truy tố bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

- Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội đúng như cáo trạng truy tố. Bị cáo cho rằng, nguyên nhân sự việc là do bị cáo hiểu nhầm ý định của chị M nên đã tấn công chị M. Sau khi phạm tội, bị cáo đã thật sự hối cải và tự nguyện bồi thường số tiền 20.000.000 đồng cho chị M nhưng do gia đình chị M từ chối nhận nên đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Nghi Lộc vào ngày 19/9/2022. Bị cáo đồng ý bồi thường tổng số tiền 50.000.000 đồng cho bị hại và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

- Người đại diện theo ủy quyền của bị hại (bà Nguyễn Thị H) yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 50.000.000 đồng thiệt hại sức khỏe cho chị M và đề nghị Toà án buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tại cơ sở giam giữ. Bà Hoàng còn yêu cầu xem xét khoản tiền mổ lấy đinh dự kiến sau 01 năm ngoài số tiền bồi thường 50.000.000 đồng như trên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghi Lộc giữ quyền công tố và kiểm sát xét xử đề nghị: giữ nguyên việc truy tố bị cáo phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Đề nghị áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo từ 02 năm đến 02 năm 03 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thử thách từ 4 năm đến 4 năm 06 tháng; áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự: sung quỹ nhà nước 01 xe moto + xe kéo chở 8 tấm cốtpha gỗ hiện đang được bảo quản tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Nghi Lộc và buộc bị cáo phải bồi thường tổng số tiền 50.000.000 đồng cho bị hại theo thoả thuận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của hành vi tố tụng và quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử:

- Trong quá trình điều tra: Điều tra viên được phân công điều tra đã thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng về việc kiểm tra, xác minh, lập hồ sơ giải quyết nguồn tin về tội phạm; lập hồ sơ vụ án; hỏi cung bị can; xử lý vật chứng; giao nhận các văn bản tố tụng đúng thời hạn.

- Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Kiểm sát viên đã thực hiện nghiêm túc hoạt động kiểm sát điều tra; tham gia phiên tòa đúng thời gian, địa điểm; công bố bản cáo trạng; tham gia xét hỏi, luận tội, tranh luận và phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án đồng thời thực hiện việc kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Tòa án cũng như người tham gia tố tụng trong giai đoạn xét xử.

Do các hành vi tố tụng và quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đều tuân thủ quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự nên hợp pháp và được sử dụng làm chứng cứ để Hội đồng xét xử xem xét.

Về nội dung:

Tại phiên toà hôm nay bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như cáo trạng truy tố. Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, người làm chứng và vật chứng được thu giữ cũng như các chứng cứ, tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án. Như vậy có đủ cơ sở kết luận: vào khoảng 23 giờ 00 phút, ngày 17/02/2022, tại xóm 5 xã H, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An, do hiểu nhầm vì cho rằng mình sắp bị tấn công, Bùi Văn C đã điều khiển xe moto biển kiểm soát 37B1-845.10 kéo theo xe kéo chở 8 tấm cốtpha gỗ hướng về phía chị Bùi Thị Thanh M, dùng chân đạp chị M ngã ra đường và điều khiển bánh xe kéo cán lên chân chị M, gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 16%. Hành vi của Bùi Văn C thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội "Cố ý gây thương tích" được quy định tại điểm đ khoản 2 điều 134 Bộ luật Hình sự (dùng phương tiện nguy hiểm là chiếc xe kéo chở côtpha đè lên chân gây gãy xương) đúng như truy tố của Viện kiểm sát nên Hội đồng xét xử chấp nhận để xác định tội danh và khung hình phạt đối với bị cáo.

Xét tính chất vụ án: Hành vi của bị cáo có tính chất và mức độ nguy hiểm lớn cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ. Bị cáo đã thể hiện sự liều lĩnh và coi thường pháp luật nên cần phải lên một mức án tương xứng để răn đe, phòng ngừa tái phạm.

Tuy nhiên cần xét: trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã tự nguyện bồi thường một phần thiệt hại cho bị hại (là những tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự). Bị cáo có nhân thân tốt, nơi cư trú rõ ràng, việc buộc bị cáo phải chấp hành án tại cơ sở giam giữ là không cần thiết nên Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự cho bị cáo được cải tạo tại địa phương để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

Về dân sự: người đại diện theo uỷ quyền của bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại về sức khoẻ cho chị M là 50.000.000 đồng. Bị cáo đồng ý nên Hội đồng xét xử chấp nhận sự thoả thuận này và cần trừ số tiền 20.000.000 đồng bị cáo đã giao nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Nghi Lộc đồng thời buộc bị cáo bồi thường tiếp 30.000.000 đồng cho chị M.

Riêng tiền dự kiến phẫu thuật lấy đinh (01 năm sau) thì do chưa phát sinh thiệt hại nên chưa có điều kiện để xem xét. Nếu sau này phát sinh thì bị hại có quyền khởi kiện bằng 01 vụ án dân sự khác.

Về vật chứng: Chiếc xe moto và chiếc xe kéo chở 8 tấm cốtpha là công cụ, phương tiện phạm tội nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự;

Tuyên bố bị cáo Bùi Văn C phạm tội “Cố ý gây thương tích".

- Về hình phạt:

Xử phạt bị cáo Bùi Văn C 02 (Hai) năm tù nhưng được cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 04 (Bốn) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 20/9/2022).

Bị cáo phải thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định của Luật thi hành án Hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ từ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã H trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật thi hành án hình sự.

- Về biện pháp tư pháp: áp dụng Điều 46 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Sung vào ngân sách nhà nước 01 xe moto nhãn hiệu Honda WaveS màu đỏ

- trắng đen, BKS 37B1-845.10 và 01 chiếc xe kéo 02 bánh, khung làm bằng tuýp sắt, trên xe để 8 tấm cốtpha bằng gỗ (Các vật chứng hiện đang được bảo quản tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Nghi Lộc theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 30/8/2022).

- Về trách nhiệm dân sự: áp dụng các Điều 584, 585, 586, 590 của Bộ luật Dân sự. buộc bị cáo Bùi Văn C phải tiếp tục bồi thường thiệt hại về sức khoẻ cho chị Bùi Thị Thanh M số tiền còn lại là 30.000.000 (Ba mươi triệu) đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án, cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Chị Bùi Thị Thanh M được nhận số tiền bồi thường 20.000.000 đồng theo Biên lai thu số 0004666 ngày 19/9/2022 do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nghi Lộc phát hành.

- Về án phí: áp dụng Điều 136, khoản 2 Điều 135 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Bùi Văn C phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 1.500.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Bản này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ